Friday, March 28, 2008

Tieu Su Truong Bo Binh Thu Duc



TIỂU SỬ
TRỪƠNG BỘ-BINH THỦ-ÐỨC

V iệc huấn luyện đơn vị và đào tạo cán bộ cho Quân lực Việt Nam đặt thuộc lãnh vực yễm trợ cũa các Quân trừơng Liên Hiệp Pháp. Tuy nhiên, kễ từ năm 1946, các Quân trừơng riêng biệt cũa Quân đội Việt Nam đựơc dần dần thành lập để mỡ rộng sự phát triển Quân lực. Tính theo thứ tự thời gian tới khi ngưng chiến, có nhiều Quân trừòng đã đựơc thành lập và một trong những Quân trừơng nầy là Trừơng Sỉ quan Trừ bị Thủ Ðức.

Theo quá trình thành hình cũa các Quân trừơng, khóa Liên Quân Viển Ðông là một khóa huấn luyện cũa Quân đội Pháp, có khỏang 10 khóa sinh Sỉ quan ngừơi Việt, đựơc mỡ với mục đích tăng thêm sĩ số ngừơi Việt trong Quân đội Pháp, chứ ngừơi Pháp chưa có ý định tạo dựng một Quân đội Việt Nam riêng biệt.

M ãi tới cuối năm 1948, Pháp mới thực sự mỡ Trừơng Sỉ Quan cho Quân đội Việt Nam. Ðó là Trừơng Sỉ Quan Huế, nhưng trừơng nầy lại đựơc khai sanh do sáng kiến cũa ông Phan Van Giáo, đương kim Tỗng Trấn Trung Phần, một phần tử rất đựơc Quốc Trửơng Bão Ðại tin cây, cho mang hàm Trung Tứơng đễ lập Quân đội Quốc gia,, và tạm thời lạnh đạo lực lựơng Việt Binh Ðòan. Lúc đó ông Giáo còn có triển vọng đựơc Quốc Trửơng bỗ nhiệm làm Tổng Tư Lệnh Quân Ðội Quốc gia do ông thành lập, với những sáng kiến riêng biệt. Khi lập ra Trừơng Si quan Huế, ông muốn tạo Trừơng nầy làm nơi rèn luyện các cấp chỉ huy cho Quân đội cũa ông. Nhưng ý kiến cũa ông không đựơc ngừơi Pháp chiều theo, họ chỉ muốn Trừơng nầy là nơi đào tạo chung cho cả Quân đội, với nhiệm vụ vừa đào tạo các Sỉ quan Trung đội trửơng cho các đơn vị chiến đấu, vừa đào tạo một số huấn luyện viên cho những khóa sau nầy.

Mùa Thu 1950, nhầm có những Quân Trừơng đào tạo cán bộ hạ sỉ quan, tại mỗi Quân khu đựơc phép mỡ một Trừơng võ bị địa phương. Trừơng hạ sỉ quan Trung Chánh đào tạo đa số cán bộ cấp nhỏ cho ngành vệ binh Nam Việt. Trừơng hạ sỉ quan Huế khi mỡ, thì Trừơng sỉ quan Huế chuyển về Ðà Lạt cải thành Trừơng Võ Bị Liên Quân Ðà Lạt, khai mỡ khóa thứ ba ngày 1-10-1950. Trừơng này đựơc mang về Ðà Lạt là do ý kiến cũa Quốc Trửơng Bảo Ðại. Lúc đó Quốc Trửơng đang ở Ðà Lạt nên muốn Quân Trừơng chính nầy đựơc dời về đây, để ông tiện coi sóc. Trừơng Sỉ quan hiện dịch khi ỏ Huế đồn trú tại Ðạp Ðá và Trừơg Vỏ Bi địa phươg nhận doanh trại nầy khi thành lập. Nhưng thực ra hai trừơng nầy khác nhau. Trừơng Vỏ Bị địa phương có lúc phải dời ra Van Thanh để sửa chửa ngoi Trừơng ở Ðạp Ðá rồi sau lại di trở về.

T rừơng Vỏ Bị Nam Ðịnh đã có vinh dự đào tạo khóa 1 Nam Ðịnh vào cuối năm 1951, khi Trừơng Sỉ quan Trừ bị xây trên đồi Tăng Nhơn Phú quận Thủ Ðức chưa hoàn tất. Tuy nhiên, khóa 1 Thủ Ðức cũng diển ra tại đây, trong những căn nhà lá đựơc dùng tạm thời làm chổ cho khóa sinh lưu trú. Bởi vậy, khóa 1 trừ bị đã diển ra tại 2 nơi vào cùng ngày 1-10-1951. Các Trừơng Vỏ Bị địa phương khi mới thành lập vì còn bị ảnh hửơng bởi Trừơng Sỉ Quan Huế trứơc đây nên còn đựơc phép đào tạo cấp Chuẩn úy, nhưng chỉ có 2 khóa đầu, về sau chỉ đựoc đào tạo Hạ Sỉ quan cấp trung đội trửơng và cấp chuyên môn mà thôi.

Năm 1951, đánh đấu việc động viên, không những động viên các thành phần Sỉ quan vào các tư nhân, công tư chức, học sinh, sinh viên; có cấp bằng văn hóa từ trung học đệ nhất cấp hoặc cấp tương đương trở lên, mà còn động viên các thành phần hạ Sỉ quan và binh sỉ không có căn bản văn hóa như trên, hay có văn hóa nhưng liệt vào lọai không có sức khỏe chiến đấu. Việc kêu gọi động viên những thành phần Hạ Sỉ quan và binh sỉ đựơc dự trù tới 60.000 ngừơi và đựơc chia gọi thành 4 đợt, mỗi đợt 15.000 ngừơi : Bắc: 6.000, Trung: 3.000 và Nam: 6.000.

Ðể thâu nhận những phần tử động viên nầy, tại Bắc Việt trung tâm huấn luyện Bắc Ninh đựơc mỡ nhưng sau trung tâm nầy phải bãi bỏ vì không thuận tiện lợi về mặt an ninh. Tại Trung tâm Nam Việt, việc huấn luyện những tân binh động viên đã diển ra ở thành Mang Cá và Cây Ðiệp. Vấn đề động viên binh sỉ lúc đó chỉ là 1 nhu cầu chính trị, bởi vậy sau 2 tháng thụ huấn, các học viên đựơc thong thả trở về nhà đợi lệnh. Nhưng việc động viên Sỉ quan lại không thế, những phần tử tốt nghiệp Sỉ quan đựơc bổ nhậm ngay tới các đơn vị Liên Hiệp Pháp vừa đựơc Việt hóa, để dần thay thế các cán bộ Pháp. Việc động viên Sỉ quan đã gây nên một vài vụ rắc rối, đó là vụ bải khóa tại khóa 1 Nam Ðịnh, đựơc cầm dầu bởi 1 số khóa sinh là sinh viên và học sinh phản đói việc nhập ngũ mà họ coi là vô nghĩa. Một số khóa sinh trong đám đó bị bắt giử nhưng sau lại đựơc đưa vào theo học khóa 1 Thủ Ðức, một số khác đựơc phép thi vào khóa 6 Ðà Lạt. Một vụ rắc rối khác xẩy ra tại khóa 2 Thủ Ðức nhưng đã bị dập tắt ngay.

Trừơng Sỉ quan trừ bị lúc ấy góp sức vào việc đào tạo các sỉ quan chuyển môn như Pháo Binh, Trọng Phao, Thiết Giáp, Xa Binh, Truyền Tin, Quân Cụ, Công Binh v…v…Thời gian thụ huấn chia làm 2 giai đọan :
Giai đọan bộ binh căn bản và giai đọan chuyên môn. Những khóa sinh nào đựơc chọn theo ngành, sau khi học xong giai đọan bộ binh, sẽ theo giai đọan chuyên môn, và khi đã tốt nghiệp sỉ quan tại Thù Ðức, đựơc gửi đi học tiếp ở các quân trừơng chuyên môn Liên Hiệp Pháp. Còn những si quan tốt nghiệp thuần túy bộ binh đựơc gởi ngay tới các đơn vị để phục vụ.

Ðể đáp ứng cho nhu cầu Việt hóa cuộc chiến tranh, tới cuối năm 1953, việc đào tạo các cán bộ sỉ quan có phần gấp rút, và đăc biệt đã đăt trọng tâm vào trừơng Thủ Ðức. Trừơng nầy đang từ sự thu nạp thông thừơng 500 khóa sinh mõi khóa, đã phải tăng lên 1.000 cho mỗi khóa. Với sự gia tăng số lựơng khóa sinh nầy, giừơng bố đã phải thay bằng giừơng tăng, các khóa sinh thụ huấn đã phải sống trong một hòan cảnh chật chội quá đáng. Thế nhưng sự gia tăng nầy vẩn chưa đũ, do đó nhửng khóa si quan trừ bị phụ đựơc mỡ thêm

T ại trừơng Vỏ Bị Liên Quân Ðà Lạt, để kịp thời cung cấp cán bộ cần thiết cho quân đội. Ðo nhu cầu nầy mà ngày nay các sỉ quan trừ bị đã nắm giử những mấu chốt quan trọng hầu hết các ngành họat động quân đội, bởi vì khối lựơng sỉ quan trừ bị đông hơn sỉ quan hiện dịch, khối lựơng nầy lại có nhiều khả năng, và đã sợ vì cuộc chiến kéo dài nên đã phục vụ vĩnh viễn cho binh nghiệp. Việc đào tạo qua ngã động viên đã 1 phần nào làm thay đổi bản chất cũa quân đội, đang từ tính cách than binh sang tính cách quốc gia, bởi vì các thành phần động viên có mặt trong quân đội tiêu biểu cho mọi giới quân chủng cũa quốc gia.

Ðầu năm 1955 quân đội chỉ còn có những quân trừơng chính mà Trừơng Sỉ Quan Trừ Bị Thủ Ðức là một trong những quân trừơng nầy. Trong thời gian nầy trừơng sỉ quan trừ bị Thủ Ðức phải tạm thời đãm nhiệm các chuyên khoa : Bộ binh, Thiết giáp, Pháo binh, Công binh, Truyền tin, Quân cụ, Thông vận binh ( tức là xa binh ) và Quân chinh, nền vào năm 1957 cải thành Liên Trừơng Vỏ Khoa Thủ Ðức.

Sau nầy các trừơng chuyên môn trong Liên trừơng Vỏ Khoa Thủ Ðức lại tách riêng ra và di chuyển đến các địa đỉêm khác và trừơng Thủ Ðức lại đựơc cải danh thành Trừơng Bộ Binh và chỉ thuần túy đào tạo các sỉ quan bộ binh. Ngoài ra trừơng Bộ Binh còn đặc trách huấn luyện các khóa Ðại Ðội Trửơng và Tiểu Ðòan Trửơng.

Ðến đầu năm 1974 thì Trừơng Bộ Binh đựơc dời lên Long Thành,(Trại cũa Quân Ðội Thái Lan củ) cho đến đầu tháng 4 năm 1975 thì di tảng trở lại Thủ Ðức và ở đây cho đến ngày mất nứơc 30 thang 4 nam 1975. Khóa cuối cùng cũa Trừơng Bộ Binh Thủ Ðức là khóa 3/75.

( Sach tham Khao : QUAN SU 4 CUA QUAN LUC VIET NAM CONG HOA)



TRỪƠNG SỈ QUAN TRỪ BỊ THỦ ÐỨC
Ngày 5-6-1948, do Hiệp Ứơc Vịnh Hạ Long, Tòan quyền Pháp Bollaert đã cử Cựu Hòang Bảo Ðại làm Quốc Trửơng và thừa nhận Việt Nam là một Quốc gia Ðộc lập trong khối Liên Hiệp Pháp.

Một năm sau, vào ngày 8-3-1949, Quốc Trửơng Bảo Ðại ký Hiệp Ứơc Elysee với Tổng Thống Pháp Vincent Auriol. Theo hiệp ứơc đó, Pháp sẽ xây dựng cho Việt Nam một Quân đội Quốc Gia. Do đó, ngày 8-3-1949 là khởi điểm cho việc thành lập Quân Ðội Quóc Gia và các trừơng đào tạo Sỉ Quan, các trung tâm huấn luyện Hạ Sỉ Quan, binh sỉ cho Quân Ðội Quốc Gia. Trừơng đào tạo Sỉ Quan Vỏ Bị Huế dành cho các HSQ đã phục vụ trong quân đội Pháp, khai giảng đầu tiên vào năm 1949 và đã đào tạo ra các sỉ quan như các tứơng Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Hữu Có, Ðặng Văn Quang…….là những ngừơi đã góp phần lãnh đạo nứơc Việt Nam trong nhiều thập niên.

N gày 23-12-1950, Việt Nam, Pháp và Hoa Kỳ ký hiệp định hổ tương, phòng thủ và viện trợ. Cùng ngày đó, Nghị Ðịnh thành lập Trừơng Sỉ Quan Trừ Bị Thủ Ðức ở miền Nam, và trừơng Sỉ Quan Nam Ðịnh ở miền Bắc đựơc ban hành. Trừơng Sỉ Quan Trừ Bị Nam Ðỉnh chỉ đào tạo đựơc 1 khóa rồi đóng cữa. Riêng Trừơng SQTB Thủ Ðức khai giảng khóa đầu tiên năm 1951 và kéo dài đến ngày 30-4-1975. Trong thời gian 25 năm đó, trừơng đã đào tạo hơn 55.000 SQ cho Quân Ðội Quốc Gia thuộc đủ mọi Quân chũng như Bộ Binh, Hải Quân, Không Quân và thuộc đũ mọi Binh chũng như Pháo Binh, Quân Cụ, Truyền Tin……..Theo hiệp định hổ tương, phòng thủ và viện trợ, năm 1950 đến 1954, Hoa Kỳ đã cung cấp cho Việt Nam một ngân khỏan 2 tỉ Mỹ kim để trang bị vũ khí và huấn luyện cho Quân Ðội Quốc Gia. Cùng trong thời gian từ 1951 đến 1954, trừơng đã đựơc chĩ huy bởi các SQ và Huấn Luyện Viên ngừơi Pháp. Bắt đầu từ năm 1955, trừơng đã đựơc chỉ huy bởi các SQ và các HLV đều là Sỉ quan Việt Nam.

Suốt 25 năm có mặt, trừơng Thủ Ðức đã đào tạo hơn 55 ngàn Sỉ Quan, thì giai đọan III ( nhất là sau lệnh Tổng Ðộng Viên ) đã chiếm đến gần 50 ngàn SQ để có đũ số Sỉ Quan cần thiết cung ứng việc chỉ huy cho 1 triệu quân…. Và tính đến ngày mất nứơc, đã có khỏang 5.000 Sỉ Quan đã hy sinh vì tổ quốc trên các chiến trừơng. Theo truyền thuyết nghe đựơc ở trừơng Bộ Binh Thủ Ðức, thì những đứa con thân yêu ấy đã trở về với Mẹ, trên mặt tựơng cũa Trung Nghĩa Ðài có hiện thêm một đừơng kẻ nứt !

Sau ngày 30-4-1975, Hội Ái Hữu Cựu Sinh Viên Sỉ Quan Thủ Ðức, đựơc một nhóm anh em có thành tâm thiện chí thiết lập lại lần đầu tiên vào tháng 12-1985 tại Houston, Texas, và cứ 2 năm họp một lần.

Biet Dong Quan



Vươn lên qua các giai-đoạn xây-dựng
và trưởng-thành trong khói lửa chiến-tranh

Biệt-Ðộng-Quân là một trong những binh chủng tân lập của Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Ðược thành-lập ngày 1 tháng 7 năm 1960 đến năm 1975
binh-chủng vừa tròn 15 tuổi. Tuy mới được thành-lập nhưng đúng vào những giai-đoạn sôi-động của chiến-trường cho nên binh-chủng đã hiên-
ngang và kiêu-hùng sánh vai cùng các binh-chủng bạn trên khắp chiến-trường, từ địa đầu giới-tuyến đến vùng Cà-Mâu nước đọng qua Hạ Lào và
Kampuchia nắng cháy. Ở đâu có giặc Cộng, ở đó có bóng dáng người chiến-sĩ mũ Nâu và binh-chủng BÐQ luôn luôn tỏ ra xứng đáng với danh-hiệu
Những Con Cọp Rừng của chiến-trường nội và ngoại biên.

Biệt Ðộng Quân được thành-lập theo nhu-cầu chiến-trường du-kích-chiến. Những đơn-vị đầu tiên của binh-chủng mang tính chất “cơ động” (Truy
kích và tiêu diệt) được gọi là Biệt Ðộng Ðội và quân-số chỉ đến cấp đại đội. Mỗi một Liên đoàn BÐQ có 3 tiểu đoàn tác chiến, một đại-đội trinh-sát, đại
đội Hành Chánh và Công Vụ. Cuối năm 1973, Liên đoàn có thêm một pháo-đội 105 ly. Ðến những ngày sau cùng của cuộc-chiến, BÐQ đã chính-thức
được tổ-chức thành cấp sư-đoàn. Sư đoàn 106 đầu tiên do Ðại Tá Nguyễn Thành Chuẩn chỉ huy. Năm 1970, BÐQ một lần nữa nhận thêm một nhiệm
vụ mới là tiếp nhận Lực Lượng Ðặc Biệt và Biên Phòng sát nhập và được cải biên thành BÐQ/BP. Thêm một đặc tính chiến thuật của BÐQ là địa
diện, nhận nhiệm vụ mắt thần trải dọc biên giới Việt Miên Lào. Quân-số của binh-chủng lên đến 40 ngàn người trong đó có 62 tiểu-đoàn tác-chiến.
Tuy là một binh-chủng tân-lập nhưng phần lớn các cấp chỉ-huy của BÐQ đã được bổ-nhiệm bằng những sĩ-quan ưu-tú đầy kinh-nghiệm chiến-
trường từ các quân-binh-chủng nổi-danh của QLVNCH. Do đó hiệu-năng tác-chiến của binh-chủng BÐQ đã gia-tăng gấp bội. 15 năm trưởng-thành
trong khói lửa chiến-tranh, binh-chủng đã lần-lượt được chỉ-huy bởi các vị chỉ-huy-trưởng: Thiếu Tá Lữ Ðình Sơn, Trung Tướng Phan Trọng
Chinh, Chuẩn Tướng Phan Ðình Thứ (tự Lam Sơn), Thiếu-Tướng Tôn Thất Xứng , Cố Thiếu-Tướng Phan Xuân Nhuận, Thiếu-Tướng Ðoàn Văn
Quảng, Cố Chuẩn-Tướng Trần Văn Hai, Ðại-Tá Trần Công Liễu, và sau cùng là Thiếu-Tướng Ðỗ Kế Giai vị tướng lãnh cuối cùng vừa đến định cư tại
Hoa Kỳ sau gần 17 năm trong trại tù cộng-sản.

Chiến-sĩ mũ Nâu sau khi mãn-khóa từ những quân-trường bộ-binh đều phải trải qua một lần thử-thách cuối cùng tại Lò Luyện Thép trước khi
rađơn-vị chính-thức thi-hành sứ-mạng của người trai thời loạn. Không một người lính mũ Nâu nào là không biết đến danh-từ RỪNG NÚI SÌNH LẦY tại
trung-tâm huấn-luyện BÐQ Dục-Mỹ (Nha-Trang). Nơi đã được tổ-chức huấn-luyện bằng sự phối-hợp chương-trình và kỹ-thuật huấn-luyện của RNSL
Mã-Lai, Panama và Fort Benning của Hoa-Kỳ. Nhưng tại RNSL Dục-Mỹ, người khóa-sinh BÐQ phải chịu nhiều cam-go, khó-khăn và thử-thách hơn
trong khi tập-luyện để khi xuất-thân từ LÒ-LUYỆN-THÉP DỤC-MỸ họ sẽ trở-thành những chiến-sĩ MÌNH ÐỒNG DA SẮT CỦA QLVNCH và sẵn-sàng
thích- nghi với mọi đòi-hỏi của nhu-cầu chiến-trường. Mặc dù TTHL/BÐQ/Dục-Mỹ trên hình-thức chỉ được xếp ngang hàng như các TTHL cấp binh-
chủng, nhưng Dục-Mỹ đã hãnh-diện trước quân-đội vì đã nhận trách-nhiệm huấn-luyện cho nhiều quân-nhân thuộc các quân binh-chủng bạn qua
các khóa học bổ-túc thích-ứng với đòi hỏi của nhu-cầu chiến-trường qua chỉ-thị của Bộ Tổng Tham Mưu.

Từ Mậu-Thân tang-tóc (1968) đến mùa hè đỏ lửa (1972) và những trận đánh cuối cùng. Binh-chủng BÐQ luôn luôn cùng các đơn-vị bạn giáng cho
bọn giặc Cộng những đòn sấm sét và chí-tử. Trong lúc Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến đang bận đối-phó với Cộng-phỉ qua những trận đánh long
trời lở đất tại vùng I và quân khu I, thì các chiến-sĩ mũ Nâu cũng đã bẻ gãy mọi mưu-toan tiến chiếm của Bắc quân xâm-lăng cuồng-tín tại các khu
chiến-thuật và biên-giới. Ðặc-biệt là tại thủ đô Sài-Gòn, Chợ-Lớn và Gia-Ðịnh ba liên-đoàn BÐQ (3, 5 và 6) đã đánh tan tành không còn manh-giáp
bọn cộng-nô cuồng tín trong hai đợt tổng công kích: Tết Mậu-Thân và tháng 5 dương-lịch 1968.

Thành-tích của binh-chủng đã không dừng lại tại thời điểm này. Trận chiến vẫn tiếp tục diễn tiến trong chiều hướng gia tăng của bắc quân. Năm
1972, những trận chiến oai hùng của Mùa Hè Ðỏ Lửa lại một lần nữa quân-sử của QLVNCH được ghi thêm thành-tích của binh-chủng BÐQ. An-Lộc
tử-thủ, Bình Long anh dũng đã là những địa danh quen thuộc của người dân miền Nam. Nơi trận chiến đã diễn ra với những cường-độ tàn bạo nhất
của cuộc chiến để sau đó trở thành mồ chôn tập thể của hàng ngàn con thiêu-thân cán binh Bắc Việt. Cũng trong thời gian này những người lính
mũ Nâu của Quân Khu I đã bị ném vào mặt trận Hạ Lào Lam Sơn 719 năm 1971 trong cái bẫy của đồng minh, nhưng nhờ sự chiến-đấu anh-dũng của
những người lính Rừng Núi Sình Lầynên BÐQ/Quân Khu I vẫn chưa bị xoá tên trong quân số QLVNCH. Cũng trong thời gian này Tống Lê Chân (tức
Sóc Con Trăng cũ) đã là mồ chôn tập thể hàng ngàn cán binh thiêu thân của giặc cộng. Tiểu đoàn trưởng Lê Văn Ngôn đã anh dũng tử thủ hơn năm
trời và là người Trung tá trẻ tuổi nhất của QLVNCH lúc vừa tròn 25 xuân xanh. (BÐQVN sẽ có bài viết riêng về Tống LêChân). Cuối cùng trước khi
sự bức tử 30-4-75 xảy ra; một lần nữa các chiến-sĩ BÐQ lại được mang ra xử-dụng, lần này là Quân Khu II/BÐQ trong một cuộc di-tản dã man nhất
của quân-sử VNCH từ Pleiku về Phú-Bổn, Nha-Trang. Sau đó thì lệnh buông súng của hèn tướng Dương Văn Minh ban hành đã đưa đến kết quả
hàng ngàn người lính mũ Nâu nói riêng và QLVNCH nói chung đã lên đường ôm mối hận 22 năm.

Không vinh-quang nào mà không có gian-khổ, cho nên thành-tích của binh-chủng đã được tô đậm bằng mồ-hôi và xương máu của những chàng
trai Việt oai-hùng và anh-dũng. Màu mũ Nâu tượng-trưng cho màu huyết-đọng đã thay cho lời nói quyết tử của người chiến-sĩ BÐQ. Ðể đền bù lại,
binh-chủng đã nhận được 4 trong tổng-số 7 huy-chương cao quý nhất của Quân-Lực Hoa-Kỳ là Presidential Unit Citation. TÐ52 mệnh-danh là Sấm
Sét Miền Ðông là tiểu-đoàn đầu tiên được nhận lãnh huy-chương danh-dự đó và TÐ44 Hùm Xám Miền Tây được một huy chương. Riêng TÐ42 nổi
tiếng với danh-hiệu Cọp Ba Ðầu Rằn được tuyên-dương hai lần.

Hôm nay nhân ngày kỷ-niệm thành-lập binh-chủng BÐQ, chúng tôi mạn phép trình-bày sơ-lược tiểu-sử không phải để tự-kiêu mà chỉ muốn nhắc-
nhở và hâm nóng lại trong tim lời thề son-sắt ngày xưa cho mỗi Mũ Nâu BÐQ hôm nay là:


BIỆT ÐỘNG QUÂN vì dân quyết-chiến
BIỆT ÐỘNG QUÂN vì nước hy-sinh
BIỆT ÐỘNG QUÂN nói là làm, làm thì phải đến nơi đến chốn


Ước mong rằng tinh-thần Biệt-Ðộng đó sẽ sống mãi trong lòng mỗi người chiến-sĩ BÐQ. Hôm nay dù tay súng đã buông, tay chèo đã ngã, hay lực đã
cùng, sức đã kiệt, tóc đã ngả màu... thì chúng ta vẫn mang một ước-nguyện được chung vai sát cánh với các chiến-hữu của các quân-binh-chủng
bạn để mang ngọn cờ vàng ba sọc đỏ về cắm lại trên mảnh đất thân yêu Việt-Nam. Khi đó dù có nằm trong lòng đất Mẹ chúng ta cũng được mãn-
nguyện.
Thành kính nghiêng mình trước vong hồn của các chiến sĩ MŨ NÂU QLVNCH và anh hùng liệt nữ đã Vị Quốc Vong Thân vì chính nghĩa quốc gia và
hai chữ TỰ DO

Thanh Lap Hai Quan QLVNCH



THÀNH LẬP HẢI QUÂN VIỆT NAM CỘNG HÒA

Nguyễn Văn Ơn
Những nhà nghiên-cứu hải-sử có mặt tại khúc-quanh lịch-sử Việt-Nam, ngày 30 tháng 4 năm 1975, đều thừa nhận mặc dù đột-ngột tan hàng, song Hải-quân VNCH đã đóng được trọn-vẹn vai-trò giao-phó trong một cuộc chiến nghiệt-ngã huynh đệ tương tàn. Suốt quá trình 23 năm bảo vệ nước, căn-cứ vào những mốc thời gian quan-trọng thì thành-quả đạt được của quân-chủng có trhể chia làm 3 giai-đoạn; đặc-biệt chú-trọng đến sự lớn mạnh của Giang-lực và Duyên-lực:
· Giai-đoạn khó-khăn hình-thành.
· Giai-đoạn chậm-chạp phát-triển.
· Giai-đoạn nhanh-chóng bành-trướng.

1- GIAI-ÐOẠN KHÓ-KHĂN HÌNH-THÀNH (1952-1957)
Ngày lịch-sử đau buồn mùng 1 tháng 9 năm 1858 cũng là ngày đánh dấu khởi-điểm suy-tàn của triều-đại Nhà Nguyễn, khi Ðề-đốc (Hải-quân Thiếu-tướng) Charles Rigault de genouilly (6) chỉ-huy 2500 lính viễn-chinh Pháp và 1000 lính thuộc-địa Tây-Ban-Nha với 14 chiến-hạm vào cửa Ðà-Nẳng bắn chìm các chiến-thuyền Việt-Nam, chiếm các pháo-đài bán-đảo Sơn-Trà rồi giao cho Hải-quân Ðại–tá Toyon trấn giữ. Ðến ngày 11 tháng 2 năm 1859, De Genouilly lại dẫn các chiến-hạm trên vô cửa Cần-Giờ đánh tan các chiến-thuyền và đồn-bót do Ðề-Ðốc Trần-Trí đang tổ-chức phòng-thủ tại vịnh Gành-Rái. Thừa thắng tiến lên thượng nguồn, ngày 18 tháng 2 năm 1859, quân Pháp lại tấn-công đổ-bộ qui-mô từ bờ sông vào thành Gia-Ðịnh. Thành vở, Án-sát Lê-Tứ và Hộ-Ðốc Vũ-Duy-Ninh đều tuẫn-tiết. Còn lại Ðề-Ðốc Trần-Trí, Bố-Chánh Vũ-Trực cùng Lãnh-Binh Tôn-Thất-Năng rút tàn quân về cố-thủ huyện Bình-Long.
Vào giữa thế-kỷ thứ 19, hạm-đội Pháp được các sử-gia Tây-phương đánh-giá là hạm-đội tối-tân nhất trong các cường-quốc hải-quân Châu-Âu đang săn tìm thuộc-địa. Các chiến-thuyền lỗi thời của thủy-quân Triều Nguyễn hành-thủy từ những năm vua Gia-Long phục-quốc thống-nhất sơn-hà 1802, nên không đủ khả-năng đương cự lại.
Qua hai trận thủy-chiến mà tương quan kỹ-thuật tác-chiến quá chênh-lệch như vậy thành ra quân ta thất trận hoàn-toàn và thủy-quân triều Nguyễn coi như thật sự bị xoá sổ từ đây, dù rằng dưới triều vua Tự-Ðức việc huấn-luyện thủy-quân rất được chú-trọng đến.
Giở lại những trang quân-sử thành-lập Quân-lực VNCH (7), nếu gác bỏ ra ngoài những tai-tiếng không tốt mà đối-phương đã tuyên-truyền về nếp sống xa-hoa của cựu-hoàng Bảo-Ðại lưu-vong, người đọc sẽ thông-cảm được quyết–tâm cao tạo-dựng một quốc-gia Việt-Nam (QGVN) độc lập, qua quyển CON RỒNG VIỆT NAM, của vị vua cuối-cùng triều-đại nhà Nguyễn.

Bảo Đại

Trải qua nhiều giai-đoạn thương-thuyết rất cam go với chính-quyền thực-dân Pháp, cựu-hoàng Bảo-Ðại hết sức kiên-nhẩn với tập-đoàn thống-trị để họ chấp nhận một nước Việt-Nam độc-lập trong Liên-hiệp Pháp được hình thành.
Ngày mùng 5 tháng 6 năm 1948, hiệp-định sơ-bộ Vịnh Hạ-Long (dẫn đến hiệp-định Elysée sau này) ký-kết giữa Toàn-quyền Ðông-Dương Emile Bollaert và Thủ-tướng lâm thời Nguyễn-Văn-Xuân có cựu-hoàng phó-thự (countersign) trên chiến-hạm Duguay Trouin thừa nhận nguyên-tắc độc-lập và thống-nhất của nước Việt-Nam với Quốc-kỳ: Cờ màu vàng 3 sọc đỏ và Quốc-ca: Thanh-niên hành-khúc của Lưu-Hữu-Phước. (8).
Nhưng rồi Quốc-hội Pháp cứ làm ngơ, viện cớ chưa tìm được qui-chế thích-hợp cho Nam-Kỳ, mãi đến ngày 8 tháng 3 năm 1949 mới thuận cho Tổng-thống Pháp Vincent Auriol và cựu-hoàng Bảo-Ðại chính thức ký hiệp-định Elysée chấp nhận nước Việt-Nam độc-lập trong khối Liên-hiệp-Pháp có tổ-chức hành-chánh riêng, tài-chánh riêng, tư-pháp riêng, quân-đội riêng và Pháp sẽ ủng-hộ Việt-Nam gia-nhập Liên-Hiệp-Quốc (9).
Như vậy, cực chẵng đã chánh-phủ Pháp đành phải trao-trả nền độc-lập, thống-nhất và toàn-vẹn lãnh-thổ cho vị nguyên-thủ của nước Việt-Nam là Quốc-trưởng Bảo-Ðại. Dĩ-nhiên hiệp-định này đi ngược lại quyền-lợi của nước Pháp, vì thực-dân Pháp chỉ muốn cai-trị nước ta như trước kia mà thôi.

Jean De Lattre de Tassigny

Thực-thi hiệp-định Elysée, thỏa-ước quân-sự Pháp-Việt ngày 30 tháng 12 năm 1949 về Hải-quân lại bị trì-trệ kéo dài đến giữa năm 1951, Ðô-Ðốc Ortoli, Tư-Lệnh Hải-quân Pháp ở Viễn-Ðông mới được lệnh lập kế-hoạch huấn-luyện quân-sự để chuyễn-giao đầu-tiên 2 Hải-Ðoàn Xung-Phong cho Hải-quân Việt-Nam. Chương-trình chuyễn-giao các Trục-Lôi-hạm(YMS), Giang-pháo-hạm(LSIL). Trợ-chiến-hạm(LSSL)... sẽ tiến-hành vào những năm kế tiếp. Nhưng khi nắm quyền Tổng-chỉ-huy hành-chánh lẫn quân-sự tại Ðông-Dương, Thống-Tướng Jean de Lattre de Tassigny (10) muốn Hải-quân Việt-Nam hoàn-toàn thống thuộc mọi mặt vào lục-quân Pháp, chứ không phải là một quân-chủng riêng như Ðô-Ðốc Ortoli đã đề-nghị. Viên tướng 5 sao này cho rằng một quân-chủng kỷ-thuật như Hải-quân không thể nào đứng vững được vì thiếu cán-bộ và chiến-cụ.
Ngày 15 tháng 8 năm 1951, Pháp đồng ý cho tuyển-mộ khóa 1 Sỉ-quan Hải-quân gồm 9 sinh-viên - 6 theo ngành chỉ-huy và 3 theo ngành cơ-khí - phần đông là cựu-sinh-viên trường Thủy-Văn Sài Gòn (Saigon Hydrography School); khóa Hạ-sĩ-quan có 50 và Ðoàn-viên là 300.
Còn về phía Chính-Phủ Quốc-Gia Việt-Nam, dù bị chèn-ép mọi mặt, Quốc-trưởng Bảo-Ðại vẫn kiên-trì tranh-thủ xây-dựng nền-tảng bắt đầu từ con số không cho Quân-Ðội Quốc-Gia.
Kể từ sau ngày 24 tháng 8 năm 1945 bị Hồ-Chí-Minh ép-buộc thoái-vị phải trao kiếm vàng cùng ấn ngọc cho đại-diện Việt-Minh Cộng-Sản là Trần-Huy-Liệu và Cù-Huy-Cận tại Ngọ-Môn Huế, cựu-hoàng hết sức thấm-thía về việc hoàng-triều không có một quân-đội đủ mạnh để dẹp bỏ Việt-Minh Cộng-Sản trước rồi sau đó đẩy lui Phú-Lang-Sa và bảo-vệ chủ-quyền Quốc-gia trường-tồn. Cho nên trong thông-điệp ngày 15 tháng 5 năm 1948 gửi cho Thiếu-Tướng Nguyễn-Văn-Xuân, cựu-hoàng tán-thành đề-nghị thành-lập Chính-Phủ Trung-Ương Lâm-Thời và giao cho Quốc-Vụ-Khanh kiêm Tổng-trấn Trung-phần (sau này đổi tên là Thủ-hiến Trung-Việt) Phan-Văn-Giáo (11) trọng-trách xây-dựng một Quân-Ðội Quốc-Gia Việt-Nam gồm đủ cả Hải, Lục và Không-quân. Cho đến năm 1949, Tổng-trấn Trung-phần Phan-Văn Giáo đã thành-công trong công-tác tuyển-mộ và huấn-luyện cho tổ-chức Việt-Binh-Ðoàn tại Huế. Sau hiệp-định Elysée, lần-lượt Vệ-Binh Nam-Phần và Bảo-Chính-Ðoàn Bắc-Phần cũng được thành-lập vào giữa năm 1950. Chính những đơn vị này là hạt-nhân cơ-bản cho tổ-chức quân-đội chính-qui QGVN (The Vietnamese National Army) ra đời ngày 30 tháng 1 năm 1951 (Dụ số 1-0D/VOP/DQT/TS) kèm theo 2 sắc-lệnh cùng ngày (12).
Sinh sau đẻ muộn hơn 2 quân-chủng Lục và Không-quân vì nghị-định thành-lập Hải-quân bị đình-hoãn nhiều lần. Nhưng rồi do nhu-cầu chiến-cuộc, dụ số 2 đã cho phép Hải-quân ra đời ngày 6 tháng 3 năm 1952, hồi-tố đến ngày 1 tháng 1 năm 1952. Vào thời điểm này, muốn thành-lập một quân-chủng kỷ-thuật như Hải-quân mà không có một đội ngũ cán-bộ chuyên-nghiệp giỏi, không có các phương-tiện huấn-luyện nhân-sự quả là một điều không tưởng. Không còn cách nào tốt hơn để đốt giai-đoạn, ngoại trừ Chính-phủ QGVN dựa vào những cơ-sở huấn-luyện có sẳn của Hải-quân Pháp để đào-tạo nhân-viên tân-tuyển của mình.
Cho nên trong khoảng thời-gian từ năm 1951 đến năm 1953, hầu hết Sĩ-quan, Hạ-sĩ-quan và Ðoàn-viên tiên-khởi của Hải-quân Việt-Nam phải theo thực-tập (On the job training) trên các chiến-hạm, chiến-đỉnh của Hải-quân Pháp đang hoạt-động ngoài biển cũng như trong sông.
Có thể nói những người tình-nguyện gia-nhập vào hàng ngũ Hải-quân Việt-Nam trong hoàn-cảnh quá khó-khăn như vậy là những thanh-niên quyết-tâm bảo-vệ quốc-gia và ôm-ấo mộng hải-hồ. Với tinh-thần yêu nươc cao độ, nhẫn-nhịn chịu đựng tập-luyện vượt qua nhiều giai-đoạn cực-khổ, cuối cùng họ đã chứng-tỏ được khả-năng hoàn-hảo về kỹ-thuật, hành-thủy và tác-chiến để xứng-đáng nhận lãnh đầu tiên 2 Hải-Ðoàn Xung-Phong Cần-Thơ và Vĩnh-Long vào giữa năm 1953 (13). Thái-độ đối-xử hòa-nhã cùng nhiệt-tình làm việc của tân thủy-thủ-đoàn Việt-Nam khiến cho một số Sĩ-quan và Hạ-sĩ-quan Pháp quên đi nỗi bất-bình về lá cờ màu vàng 3 sọc đỏ đang phất-phới bay trên các chiến-đỉnh của họ mà họ còn nán lại phục-vụ trong những ngày chót trước khi lên đường về nước.
Giờ đây, Hải-Quân Việt-Nam là một thực-thể trong ước-mơ của những chàng trai-trẻ ham ra khơi, thích lướt sóng; nhất là viễn-dương xuất-ngoại du-học. Họ đã tạo được niềm-tin vững-mạnh cho Thủ-Tướng Ngô-Ðình-Diệm ban nghị-định ngày 20 tháng 8 năm 1955 thành-lập Bộ Tư-Lệnh Hải-Quân (BTL/HQ) và chính-thức bổ-nhiệm HQ/Thiếu tá Lê-Quang-Mỹ vào chức-vụ Tư-lệnh Hải-quân kiêm chỉ-huy-trưởng đoàn Thủy-quân-lục-chiến. Riêng Hải-Ðoàn 2 Xung-Phong (Dinassault N0 2) được tướng De-Lattre) ra lệnh thành-lập từ đầu tháng 2 năm 1951 theo nhu-cầu cuộc-chiến tại miền Trung-châu Bắc-việt vẫn trực-thuộc Bộ Chỉ-Huy Giang-Lực của Pháp (COFFLUSIC) và sát-nhập vào Hải-Ðoàn 21 Xung-Phong đầu năm 1955 khi vào Nam (14)



Ngày 16 tháng 6 năm 1954, Chí-sĩ Ngô-Ðình-Diệm về nước thành-lập Chính-Phủ do sự ủy-nhiệm của Quốc-trưởng Bảo-Ðại bằng sắc-lệnh số 38/QT. Bởi những thế-lực riêng biệt do quân-đội Pháp cố tình tạo ra trước khi rút về nước theo hiệp-định Genève ngày 21 tháng 7 năm 1954, quân-đội QGVN bị chia rẽ thật trầm-trọng. Theo Ðoàn-Thêm trong tài-liệu đã dẫn, ngày 21 tháng 3 năm 1955, trên hệ-thống đài phát-thanh Pháp-Á cũng như đài phát-thanh Quốc-gia SàiGòn, Thủ-tướng Ngô-Ðình-Diệm đã phải cương-quyết tuyên-bố:
“Phải thống-nhất quân-đội, không có lực-lượng riêng biệt; phải thống-nhất hành-chánh, không có địa-phương tự-trị; phải thống-nhất tài-chánh, không thể thâu những sắc-thuế do địa-phương tự-động đặt ra.”
Ngoại trừ quân-đội Cao-Ðài thực-tâm qui-thuận Chính-phủ, ngày 28 tháng 3 năm 1955, Thủ-tướng Diệm ra lệnh cho quân-đội QGVN tấn-công loại bỏ quân-đội Bình-Xuyên và ngày 5 tháng 6 năm 1955 loại trừ luôn quân-đội Hòa-Hảo.
Báo-chí trong nước, ngoài nước thời đó đều ca ngợi tài lãnh-đạo anh-minh của Thủ-tướng Diệm; vì chỉ trong vòng một năm thôi mà Ông đã gom được quân-đội về một mối, chấm dứt nạn “Sứ-quân thời-thượng”. Thắng-lợi này cũng dọn đường cho cuộc trưng-cầu dân-ý ngày 23 tháng 10 năm 1955 truất-phế Bảo-Ðại và suy-tôn Thủ-Tướng Ngô-Ðình-Diệm lên chức-vụ Quốc-Trưởng. Chủ-tịch Thượng-viện Hoa-Kỳ Lyndon Baines Johnson cũng cổ-vũ Tổng-Thống Diệm là Churchill của thập niên...người lãnh-đạo tiền-phong cho nền tự-do ở Ðông-Nam-Á...(15).
Dụ số 2 ấn-định ngày 26 thắng10 năm 1955 là ngày Quốc-Khánh của nền Ðệ Nhất Việt-Nam Cộng-Hòa và Quốc-trưởng lấy danh-hiệu là Tổng-Thống VNCH. Quân-Ðội QGVN trở thành Quân-lực VNCH (The Republic of Vietnam Armed Forces = RVNAF)
Ðến cuối năm 1955, Hải-quân thuần-túy Việt-Nam có 3,858 người kể cả 1291 Thủy-quân-lục-chiến với Tiểu-đoàn 1 Quái-Ðiểu và Tiểu-đoàn 2 Trâu-Ðiên.
Ðầu năm 1956, Tổng-Thống VNCH chấp-thuận dự-án Giang-lực dự-trù thành-lập 5 Hải-đoàn Xung-Phong, mỗi hải-đoàn sẽ được trang-bị:
· 05 Trung-vận-đỉnh LCM6 (Landing craft Mechanized)
· 04 Tiểu-vận-đỉnh LCVP (Landing craft vehicle and personnel)
· 05 Hô-bo vận-tốc nhanh (Hors-bord)
· 02 Quân-vận-hạm LCU (Landing craft utility)
· 02 Tàu kéo quân-cảng YTL (harbor craft)
· 01 Giang-pháo-hạm LSIL (Landing ship infantry large) tăng-phái.
Ðó là các Hải-Ðoàn 21 Xung-Phong (hậu-cứ tại Mỹ-Tho), Hải-Ðoàn 23 Xung-Phong (hậu-cứ tại Vĩnh-Long)Hải-Ðoàn 24 Xung-Phong (hậu-cứ tại Cát-Lái) Hải-Ðoàn 25 Xung-Phong (hậu-cứ tại Cần-Thơ và Hải-Ðoàn 26 Xung-Phong (hâu-cứ tại Long-Xuyên).
Riêng về Hải-lực, đến cuối năm 1957, số chiến-hạm được Pháp chuyễn-giao lên 21 chiếc gồm:
· 05 Hộ-tống-hạm PC (Patrol Craft or submarine chaser) là:
HQ.01-CHI-LĂNG
HQ.02-VẠN-KIẾP
HQ.03-ÐỐNG-ÐA
HQ.04-TUY-ÐỘNG
HQ.05-TÂY-KẾT.
· 03 Trục-lôi-hạm YMS (Yard MineSweeper) là:
HQ.111-HÀM-TỬ
HQ112-CHƯƠNG-DƯƠNG
HQ.113- BẠCH-ÐẰNG.
· 02 Trợ-chiến-hạm LSSL (Landing Ship Support Large) là:
HQ.225-NỎ-THẦN(Nguyễn-Văn-Trụ)
HQ.226-LINH-KIẾM(Lê-Trọng-Ðàm).
· 05 Giang-pháo-hạm LSIL (Landing Ship Infantry Large) là:
HQ.327-LONG-ÐAO
HQ.328-THẦN-TIỂN
HQ.329-THIÊN-KÍCH
HQ.330-LÔI-CÔNG
HQ.331-TẦM-SÉT.
· 04 Hải-vận-hạm LSM (Landing Ship Medium) là:
HQ.400-HÁT-GIANG
HQ.401-HÀN-GIANG
HQ.402-LAM-GIAN
HQ.403-NINH-GIANG.
· 01 Hỏa-vận-hạm YOG (Oiler) là:
HQ.470.
· 01 Huấn-luyện-hạm AKL (Loại tàu vận-chuyễn) là:
HQ.451-QUÁ-GIANG

2- GIAI-ÐOẠN CHẬM-CHẠP PHÁT-TRIỂN (1958-1967)
Năm 1958 được chọn làm mốc thời-gian vì những sự-kiện quan-trọng sau đây:
Trung-Tâm Huấn-Luyện Hải-Quân NHa-Trang được Pháp chuyễn-giao toàn bộ lại cho Hải-Quân Việt-Nam.
Hải-Quân Việt-Nam tăng lên 5,000 người
Khóa 8 Sĩ-qian Nha-Trang (Ðệ I Hổ-Cáp) có 50 sinh-viên nhập học với giáo-sư, giảng-viên và Huấn-luyện-viên loàn-toàn là người Việt-nam.
Quân-số Giang-lực gia-tăng 50% cho 5 Hải-Ðoàn Xung-Phong trang-bị 96 chiến-đỉnh đủ loại.
Ðầu năm 1960, Bộ Tư-Lệnh Hải-Quân phúc-trình đặc-biệt lên Bộ Tộng-Tham-Mưu về tiểu-đoàn 603 Việt-Cộng tức Tập-Ðoàn Ðánh Cá Sông Gianh đã lén-lút xâm-nhập vào Duyên-khu Ðà-Nẳng. Tổng-Thống Diệm chấp-thuận thành-lập ngay 4 Ðội Hải-Thuyền đầu-tiên: Ðội 11 Cửa-Việt, Ðội 12 Cửa Thuận-An, Ðội 13 Cửa Tư-Hiền, Ðội 14 Cửa Hội-An. HQ/Ðại-úy Nguyễn-Văn-Thông (khóa 3 Sĩ-Quan Nha-Trang) chỉ-huy huấn-luyện 400 tuần-viên sơ-khởi cho 80 ghe đủ loại.
Năm 1962, Hải-Ðoàn 22 Xung-Phong được thành-lập, HQ/Ðại-úy Huỳnh-Duy-Thiệp (khóa 7 Sĩ-Quan Nha-Trang) là Chỉ-Huy-Trưởng đầu tiên.
Ðến cuối năm này, Lực-lượng Hải-Thuyền tăng lên 28 đội đóng dọc theo duyên-hải với 800 Tuần-viên, rồi được cải-danh thành Duyên-Ðoàn khi quân-số tăng lên đến 4,000 người.
Ðến đầu năm 1963, HQ/Ðại-tá Hồ-Tấn-Quyền, Tư-Lệnh Hải-Quân mở cuộc hành-quân thủy-bộ bình-định Năm-Căn: Chiến-dịch SÓNG-TÌNH-THƯƠNG.



Bước ngoặt chính-trị năm 1963:
Ðược sự ủng-hộ của Ðại-sứ Mỹ Henry Cabot Lodge (vua tổ-chức đảo-chánh), các tướng-lãnh Việt-nam đã làm cuộc đảo-chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963 giết chết Tổng-Thống Diệm và chấm dứt nền Ðệ I VNCH (16). Trong cuộc chính-biến này, HQ/Ðại-tá Hồ-Tấn-Quyền, Tư-Lệnh Hải-Quân cũng bị một sĩ-quan đàn em chối bỏ truyền-thống quân-chủng ám-sát chết (17).
Vì khônng còn lãnh-tụ nào sáng giá hơn Ông Diệm, nên tình-hình chính-trị miền Nam trở nên bất ổn. Quân-đội phân-hóa, đảo-chánh liên-miên, sinh-viên học-sinh biểu-tình hàng ngày. Lợi-dụng tình-trạng rối-ren tại thành-phố và hoang-phế 7000 ấp chiến-lươc tại nông-thôn, Việt-Cộng gia tăng cường-độ ám-sát khủng-bố và bắt đầu tổ-chức đánh lớn cấp trung-đoàn. Cuối năm này, Hải-quân mất luôn quyền chỉ-huy Liên-đoàn Thủy-quân lục-chiến khi binh chủng thống-thuộc này trở thành Lử-đoàn tổng-trừ-bị do Trung-tá Lê-Nguyên-Khang làm Tư-Lệnh và bị áp-đặt trực-thuộc Bộ Tổng-Tham-Mưu về mọi mặt giống như binh-chủng Nhảy-dù của Không-quân.
Ðến hết năm 1964, Hải-quân cũng chưa thoát khỏi quỉ-đạo lục-đục trên đây, các sĩ-quan khóa 2 Nha-Trang gồm HQ/Trung-tá Nghiêm-Văn-Phú, Chỉ-huy-trưởng Hải-lực; HQ/Trung-tá Ðỗ-Quý-Hợp, Chỉ-huy-trưởng Giang-lực; HQ/Trung-tá Khương-Hữu-Bá, Chỉ-huy-trưởng Duyên-lực; HQ/Trung-tá Ðặng-Cao-Thăng, (khóa 1 Brest), Giám-đốc Hải-Quân Công-Xưởng đồng lòng lật đổ Phó Ðề-Ðốc Chung-Tấn-Cang,Tư-lệnh Hải-Quân về vụ thủy-cước.
Sau ngày 8 tháng 3 năm 1965, quân-đội Hoa-Kỳ đổ-bộ lên hải-cảng Ðà-Nẳng, Hải-quân có 7 Hải-Ðoàn Xung-Phong. Với bảng cấp số (SOP) mới 1965, Hải Ðoàn Xung-Phong được cải danh là Giang-Ðoàn Xung-Phong (River Assault Group = RAG) có quân-số 150 người. Sáu trong bảy Giang-đoàn loại này được trang bị:
· 01 Giang-đỉnh chỉ-huy (Commandement Monitor)
· 01 Chiến-đấu-đỉnh (Combat Monitor)
· 05 Trung-vận-đỉnh LCM6.
· 06 Tiểu-vận-đỉnh LCVP.
· 06 Xung-kích-đỉnh STCAN or FOM.
Riêng Giang-đoàn 27 Xung-Phong trang-bị hơi khác biệt với 6 Giang-đoàn kia: 01 Giang-đỉnh chỉ-huy + 01 Chiến-đấu-đỉnh + 06 Quân-vận-đỉnh LCM8 và 10 Tiểu-đỉnh RPC (River Patrol Craft) (18). Quân-số Giang-lực lúc bấy giờ tăng thành 1150 người kể cả Bộ Chỉ-huy Giang-lực và 3 Ban Chỉ-huy hành-chánh Liên Giang-đoàn (type).
Ngày 19 tháng 6 năm 1965 được gọi là Ngày Quân-Lực do sắc-lệnh của Chủ-tịch Ủy-ban Hành-Pháp Trung-ương (tương-đương với Thủ-tướng Chính-phủ) Nguyễn-Cao-Kỳ ban-hành để chấm dứt thời-kỳ khủng-hoảng chính-trị kéo dài. (19).
Gần cuối năm, Lực-lượng Hải-thuyền 4000 ngưởi được sát-nhập vào Hải-quân. Tuần-viên cải danh thành Ðoàn-viên kèm theo cấp số chánh-thức cho mỗi Duyên-đoàn là 03 Ghe chủ-lực, 03 ghe di-cư và 16 ghe chèo.
Trong 7 năm đầu, Hải-quân tiến-triển chậm-chạp nhưng trong 3 năm sau, Hải-lực đã nhận thêm một số chiến-hạm đáng kể:
· 03 Trục-lôi-hạm MSC (Mine Sweeper Craft) là:
HQ.114-HÀM-TỬ II
HQ.115- CHƯƠNG-DƯƠNG II
HQ.116-BẠCH-ÐẰNG II.
· 01 Hộ-tống-hạm PC là:
HQ.06-VÂN-ÐỒN.
· 02 Hộ-tống-hạm PCE (Patrol Craft Escort) là:
HQ.07-ÐỐNG-ÐA
HQ.12- NGỌC-HỒI
· 04 Hộ-tống-hạm MSF (Mine Sweeper Fleet) là:
HQ.08-CHI-LĂNG II
HQ.09-KỲ-HÒA
HQ.10-NHỰT-TẢO
HQ.11-CHÍ-LINH.
· 03 Hải-vận-hạm LSM (Landing Ship Medium) là:
HQ.404-HƯƠNG-GIANG
HQ.405-TIỀN-GIANG
HQ406-HẬU-GIANG.
· 03 Dương-vận-hạm LST (Landing Ship Tank) là:
HQ.500-CAM-RANH
HQ.501-Ðà-NẲNG
HQ 502-THỊ-NẠI.
· 20 Tuần-duyên-hạm PGM (Patrol Gunboat) là:
HQ.600-PHÚ-DỰ.
HQ.601-TIÊN-MỚI.
HQ.602-MINH-HOA.
HQ.603-KIẾN-VÀNG.
HQ.604-KEO-NGỰA.
HQ.605-KIM-QUY.
HQ.606-MAY-RÚT.
HQ.607-NAM-DU.
HQ.608-HOA-LƯ.
HQ.609-TÔ-YẾN.
HQ.610-ÐỊNH-HẢI.
HQ.611-TRƯỜNG-SA.
HQ.612-THÁI-BÌNH.
HQ.613-THỊ-TỨ.
HQ.614-SONG-TỬ.
HQ.615-TÂy-SA.
HQ.616-HOÀNG-SA.
HQ.617-PHÚ-QUÝ.
HQ.618-HÒN-TRỌC.
HQ.619-THỔ-CHÂU.
· 02 Hỏa-vận-hạm YOG là:
HQ.471.
HQ.472.
· 05 Trợ-chiến-hạm LSSL là:
HQ.227-LÊ-VĂN-BÌNH
HQ.228-ÐOÀN-NGỌC-TẢNG.
HQ.229-LƯU-PHÚ-THỌ.
HQ.230-NGUYỄN-NGỌC-LONG..
HQ.231-NGUYỄN-ÐỨC-BỔNG.
Như vậy, vào cuối năm 1967, Hải-lực có tổng-số chiến-hạm là 64 chiếc.

3- GIAI-ÐOẠN NHANH CHÓNG BÀNH-TRƯỚNG (1968-1975).
Ðầu năm 1968, Việt-cộng mở cuộc Tổng-nổi-dậy, công-kích trên toàn lãnh-thổ VNCH; Hải-quân với quân-số 30,000, kể cả 7,500 sĩ-quan, không những bảo-toàn được lực-lượng đông-đảo như vậy mà còn yểm-trợ hữu-hiệu cho các đơn-vị bạn tái chiếm nhiều vị-trí bị lọt vào tay địch trong những ngày Tết Mậu-Thân.
Cũng trong năm này, 3 trung-tâm huấn-luyện được phân-nhiệm rõ-rệt: Trung-Tâm Huấn-Luyện Nha-Trang đào-tạo sĩ-quan, Trung-Tâm huấn-Luyện Cam-Ranh dành cho Hạ-sĩ-quan và Ðoàn-viên, Trung-Tâm Huấn-Luyện Bổ-Túc Sài Gòn trau-dồi thêm kiến-thức chuyên-môn cho các cấp.
Ðến năm 1969, để theo kịp chương-trình “Việt-Nam hóa chiến-tranh” (Accelerated turnover to the Vietnamese = ACTOV), Bộ Tư-Lệnh Hải-quân tổ-chức HÀNH-QUÂN LƯU-ÐỘNG BIỂN và HÀNH-QUÂN LƯU-ÐỘNG SÔNG. Trong tổ-chức Hành-Quân Lưu-Ðộng Sông, 3 Lực-lượng tác-chiến trong sông được thành-lập:
· Lực-lượng Thủy-Bộ, tổ-chức hành-chánh (type) đóng tại Bình-Thủy, khi trở thành Ðặc-Mhiệm (Task) gọi là Lực-Lượng Ðặc-Nhiệm 211.
· Lực-Lượng Tuần-Thám, tổ-chức hành-chánh đóng tại Mỹ-Tho, khi trở thành Ðặc-Nhiệm gọi là Lực-Lượng Ðặc-Nhiệm 212.
· Lực-Lượng Trung-Ương, tổ-chức hành-chánh đóng tại Ðồng-Tâm, khi trở thành Ðặc-Nhiệm gọi là Lực-Lượng Ðặc-Nhiệm 214.
Tư-Lệnh Hải-Quân vùng VI Sông-Ngòi kiêm Tư-Lệnh Hạm-Ðội Ðặc-Nhiệm 21 khi chỉ-huy cả 3 Lực-lượng trên cùng 7 Giang-Ðoàn Xung-Phong và các cơ-sở tiếp-vận trong vùng châu-thổ Cữu-Long, quân-số lên đến 10,500 người. Tư-Lệnh vùng III Sông-Ngòi có 5 Giang-đoàn Xung-Phong cơ-hữu, cũng được sự tăng-phái của các Lực-lượng Ðặc-nhiệm 211,212 và 214. (20)
Hoàn tất chương-trình ACTOV năm 1972, Hành-quân Lưu-động Biển đã nhận thêm 20 chiến-hạm:
· 04 Dương-vận-hạm LST là:
HQ.503-VŨNG-TÀU
HQ.504-QUI-NHƠN
HQ.505-NHA-TRANG
HQ.800-MỸ-THO.
· 02 Cơ-xưởng-hạm LST là:
HQ.801-CẦN-THƠ
HQ.802-VĨNH-LONG.
· 01 Hộ-tống-hạm MSFlà:
HQ.13-HÀ-HỒI.
· 01 Hộ-tống-hạm PCE là:
HQ.14-VẠN-KIẾP.
· 03 Hỏa-vận-hạm YOG là:
HQ.472
HQ.473
HQ.475.
· 02 Khu-trục-hạm tiền-thám DER (Destroyer Radar Picket Escort) là
HQ.1-TRẦN-HƯNG-ÐẠO
HQ.4-TRẦN-KHÁNH-DƯ
· 07 Tuần-dương-hạm WHEC (White High Endurance Cutter) là:
HQ.2-TRẦN-QUANG-KHẢI
HQ.3-TRẦN-NHẬT-DUẬT
HQ.5-TRẦN-BÌNH-TRỌNG
HQ.6-TRẦN-QUỐC-TOẢN
HQ.15-PHẠM-NGŨ-LÃO
HQ.16-LÝ-THƯỜNG-KIỆT
HQ.17-NGÔ-QUYỀN
· 05 Hải-đội Duyên-Phòng được chuyễn-giao 26 Tuần-duyên-đỉnh WPB (Coastal Patrol Boat) đánh số từ HQ.700 đến HQ.725 và 107 Duyên-tốc-đỉnh PCF (Patrol Craft Fast).
Cuối năm 1972, quân-số hải-quân VNCH tăng thành 41,000 người. Theo Jane’s Fighting Ships 1972-1973, HQ/Ðại-tá John More xếp sự lớn mạnh của lực-lượng Hải-quân VNCH vào hàng thứ 9 trong các cường-quốc Hải-quân trên thế-giới.
Ðầu năm 1975, lực-lượng Hải-quân VNCH gồm:
· 05 vùng Duyên-hải với 133 chiến-đỉnh và 500 ghe đủ loại.
· 02 vùng Sông-ngòi và 03 lực-lượng tác-chiến trong sông với trên 950 chiến-đỉnh đủ loại.
· Hạm-đội Biển với 84 chiến hạm.
· Quân-số: 43,000 người.
Giữa tháng 4 năm 1975, ngay sau khi trở lại nhậm-chức Tư-Lệnh Hải-Quân lần thứ hai, Phó Ðô-đốc Chung-Tấn-Cang chỉ-định HQ/Ðại-tá Lê-Hữu-Dõng thành-lập cấp-tốc Lực-Lượng Ðặc-Nhiệm 99 với sự phối-hợp của các Giang-đoàn 22 Xung-Phong, Giang-đoàn 42 Ngăn-Chặn và Giang-Ðoàn 59 Tuần-Thám gồm khoảng 50 chiến-đỉnh để giải-tỏa áp-lực địch trong phạm-vi trách-nhiệm của Hải-quân.

__________________________

Chú-Thích:

(6)- Trần-trong-Kim. việt-Nam Sử-Lược. Saigon thư-xã 1962. Chương 7: Quân-đội Triều Nguyễn, trang 510-520.
Nguyễn-hợp-Minh. Lịch-sử giữ nước của dân-tộc Việt-Nam. Melbourne 2000. Tập 6, trang 285-288.
Ðúc kết tóm-lược: Sau khi ký hiệp-ước Thiên-Tân ngày 27 tháng 6 năm 1858 với Trung-Hoa, Chính-Phủ thực-dân Pháp chỉ-định Ðề-đốcRigault de Genouilly điều-động 13 chiến-hạm Pháp và 01 chiến-hạm Tây-Ban-Nha do HQ/Ðại-tá Lanzarote làm Hạm-trưởng, kéo sang xâm-lược Việt-Nam. De Genouilly được phong chức Phó Thủy-sư Ðô-đốc, Tổng chỉ-huy Lực-lượng Thực-dân Viễn- chinh tại nước ta từ ngày 1 tháng 9 năm 1858 đến ngày 1 tháng 11 năm 1859.
(7)- Bộ Tổng-tham-mưu phòng5. Quân-sử tập 4: Quân-lực hình-thành 1946-1955. Saigon 1972.
(8)- Ðoàn-Thêm. Hai mươi năm qua, việc từng ngày. Saigon 1966, trang 44-45.
(9)- Ðoàn-Thêm. Tài-liệu đã dẫn, trang 52.
(10)- Ðoàn-Thêm ghi nhận trang 82, tái-liệu đã dẫn: Từ nay, quân-đội VN thuộc hẳn quyền Quốc-trưởng Bảo-Ðại, nhưng có cơ-quan liên-lạc với quân-đội Liên-hiệp Pháp.
Cũng ngày hôm đó, Thống-tướng 5 sao Jean de Lattre de Tassigny, được Chính-phủ Pháp cử sang làm Tổng-Tư-Lệnh Quân-Ðội kiêm Cao-Ủy pháp tại Ðông-Dương.
(11)- Trung-tướng Tôn-Thất-Ðính. Hồi-ký 20 năm binh-nghiệp. CA Chánh-đạo 1988, trang 29-30.
Ðoàn-Thêm. Tài-liệu đã dẫn, trang 44, 57, 69 và 112.
Ðúc-kết tóm-lược: Ông Phan-Văn-Giáo, một nhân-vật thân-tín của Cựu-hoàng Bảo-Ðại, tuy không tốt-nghiệp một trường võ-bị nào nhưng có khả-năng rất cao về tổ-chức quân-đội, giúp Quân-Ðội VNCH sớm hình-thành. Qua nhiều Chính-phủ từ Nguyễn-Văn-Xuân đến Nguyễn-Văn-Tâm, Ông đã được giao-phó nhiều chức-vụ thật quan-trọng:
Ngày 2 tháng 6 năm 1948: Quốc-vụ-khanh, Tổng-trưởng kiêm Tổng-trấn Trung-phần, đặc-trách thành-lập Việt-Binh-Ðoàn
Ngày 3 tháng 7 năm 1949: Thủ-hiến Trung-Việt bành-trướng Việt-Binh-Ðoàn thành Quân-Ðội QGVN.
Ngày 4 tháng 4 năm 1950: Tổng-Thanh-tra Quân-đội QGVN với quân-hàm Trung-tướng Giả-định (être assimilé au grade de Général), trực-thuộc Quốc-trưởng (Sắc-lệnh số 31/QT).
Ngày 25 tháng 6 năm 1952: Phó Thủ-tướng kiêm Tổng-trưởng Thông-tin.
(12)- Ðoàn-Thêm. Tài-liệu đã dẫn, trang 86.
(13)- Hải-đoàn Xung Phong, Hải-quân Pháp gọi là DINASSAUT (Division Naval d’assault), xin xem phần quan-niệm về tổ-chức Dinassault trong tập này, trang .... Lúc Pháp chuyễn-giao, các Hải-đoàn chưa có số nên tạm thời lấy tên địa-phương đồn-trú. Hải-đoàn Xung-phong Cần-Thơ và Vĩnh-Long, mỗi đơn-vị nhận:
01 giang-đỉnh chỉ-huy (Commandement Monitor LCM6.
02 Trung-vận-đỉnh LCM6 (Landing craft Mechanized)
02 Tiểu-vận đỉnh LCVP (Landingcraft Vehicle and Personnel).
(14)- HQ/Tr/tá Vũ-Hữu-San. Lược-sử tổ-chức Hải-quân VNCH. Tài-liệu chuyễn cho Hội-Ðồng Hải-Sử 2000, trang 4-6.
(15)- Karnow, Stanley. Viuetnam a story. Viking London 1991, trang 222 ghi lại nhận-định của Lyndon B.Johnson như sau: “President Diem is the Churchill of the decade... in the vanguard of those leaders who stand for freedom...”.
(16)- Karnow, Stanley. Tài-liệu đã dẫn, nhận-xét về Tổng-Thống Diệm:”... into South Vietnam’s military and Police machinery, leaving only small fraction for economie decelopment; and he was less interested in building an army to fight Viet-Cong guerrillas than in forming conventional units that would protect him against his rival in Saigon...”. Karnow cựu thông-tín-viên cho các tờ Times, Life và The Washington Post kiêm chủ-nhiệm The New Republic về vấn-đề Ðông-Nam-Á, nổi tiếng qua quyển “Mao and China” năm 1972 vì những sự thật được phơi-bày trong đó. Nhưng đến quyển Vietnam a story xuất-bản năm 1983, Ông vấp phải nhiều sai-sót nghiêm-trọng, có lẽ vì không được ở Việt-Nam lâu bằng ở Trung-Cộng. Ðiển-hình là ông không biết Liên-Binh Phòng-Vệ dinh Tổng-Thống có mấy Tiểu-đoàn và Lực-lượng Ðặc-biệt của Trung-tá Lê-Quang-Tung có bao nhiêu Ðại-đội thuộc Cần-Lao?. Ông cũng không biết đến quốc-sách 7 ngàn Ấp Chiến-Lược với 8 triệu dân-quân đang ngày đêm trực-diện chiến-đấu với Cộng-Sản tại nông-thôn hẻo lánh. Thành thử Ông nhận-định hàm-hồ như vậy cũng phải!
(17)- Nghi-phạm ám-sát HQ/Ðại-tá Quyền (khóa 1 Sĩ-quan Nha-Trang) là HQ/Thiếu-tá Trương-Ngọc-Lực (khóa 2 Sĩ-quan Nha-Trang). Các Tướng-lãnh tổ-chức cuộc đảo-chánh ngày 1 tháng 11 năm1963 đã sai-lầm trong quyết-định dùng một sĩ-quan đàn em sát-hại sĩ-quan đàn anh mà không đếm xỉa gì đến truyền-thống quân-chủng Hải-quân. Ngay khi nhận thấy hậu-quả nghiêm-trọng về cái chết của Tư-Lệnh Hải-Quân. Hội-đồng tướng-lãnh vội-vã thăng-cấp Trung-tá Bộ-Binh cho Lực rồi đẩy ra nước ngoài để tránh búa rìu nguyền-rủa của cả Hải-quân vào thời đó.
(18)- Tham-chiếu quyết-định của Hội-Ðồng tu-chính Hải-qui do Phó Ðề-đốc Lâm-Nguơn-Tánh làm chủ-tịch, BTL/HQ/P5 ban-hành một tài-liệu căn-bản về việc định danh (đặt tên) cho các chiến-hạm và chiến-đỉnh vào tháng 6 năm 1971. Tên các chiến-đỉnh trong tập này được viết theo đúng tinh-thần sự-vụ văn-thư đã phổ-biến. Xin xem chương-trình ACTOV trong tập này, trang ....
(19)- Trên thế-giới, các quốc-gia văn-hiến chọn ngày truyền-thống Quân-đội (Ngày Quân-Lực) là ngày đề cao giá-trị tinh-thần bất-khuất, anh-dũng hy-sinh và tình đoàn-kết chiến-đấu vì mục-tiêu cao-cả của người chiến-binh mình. Úc-Ðại-Lợi (Australia) chẳng hạn, Lưỡng-Viện Quốc-Hội Úc đã chọn ngày 25 tháng 4 hàng nam làm ngày ANZAC. Cái độc-đáo của ngày Quân-lực Úc là ngày bại trận tổn-thất đến 5000 chiến-binh nhưng lại nói lên tinh-thần keo-sơn đoàn-kết, hào-hùng chiến-đấu của Liên-quân Úc và Tân-Tây-Lan trên chiến-trường quá bất lợi Gallipoli (Thổ-Nhỉ-Kỳ) vào ngày 25 tháng 4 năm 1915. Còn ngày Quân-lực 19 tháng 6 năm 1965 của nền Ðệ II VNCH chỉ là ngày mà Chủ-tịch Ủy-ban Lãnh-đạo Quốc-gia Trung-tướng Nguyễn-Văn-Thiệu và Chủ-tịch Ủy-ban hành-pháp Trung-ương Thiếu-tướng Nguyễn-Cao-Kỳ đồng ý với nhau là thôi, không làm đảo-chánh nữa vì đã loại bỏ chính-quyền dân-sự Phan-Khắc-Sửu (Tổng-thống) và Phan-Huy-Quát (Thủ-tướng) rồi. Ngày truyền-thống của Quân-lực VNCH mà chỉ có hai người quyết-định giống như trong thời-kỳ Quân-chủ chuyên-chế. Thật hiếm thấy thay!
(20)- Vùng III Sông-Ngòi có 5 Giang-Ðoàn Xung-phong trực-thuộc:
Giang-Ðoàn 22 Xung-Phong và Giang-Ðoàn 28 Xung-Phong hợp thành Liên Giang-Ðoàn trú đóng tại Nhà-Bè.
Giang-Ðoàn 24 Xung-Phong và Giang-Ðoàn 30 Xung-Phong hợp thành Liên Giang-Ðoàn trú đóng tại Long-Bình.
Giang-Ðoàn 27 Xung-Phong, tăng-phái thường-trực cho Ðặc-khu Rừng-Sát. Trú đóng tại Nhà-Bè.
Vùng IV Sông-Ngòi có 7 Giang-Ðoàn Xung-phong trực-thuộc:
Giang-Ðoàn 21 Xung-Phong và Giang-Ðoàn 33 Xung-Phong hợp thành Liên Giang-Ðoàn đồn-trú tại Mỹ-Tho.
Giang-Ðoàn 23 Xung-Phong và Giang-Ðoàn 31 Xung-Phong hợp thành Liên Giang-Ðoàn đồn-trú tại Vĩnh-Long.
Giang-Ðoàn 25 Xung-Phong và Giang-Ðoàn 29 Xung-Phong hợp thành Liên Giang-Ðoàn đồn-trú tại Cần-Thơ.Giang-Ðoàn 26 Xung-Phong, tăng-phái thường-trực cho BTL/Lực-lượng Ðặc-nhiệm 212 vùng biên-giới Việt-Miên, đồn-trú tại Long-Xuyên.

__________________________________

TÀI-LIỆU CHỌN-LỌC THAM-KHẢO

Tập này không có phần phụ-đính DANH-MỤC (Index) để đồng-nhất và dể-dàng tra-cứu, tên các tác-giả nước ngoài sẽ được ghi HỌ trước rồi mới đến TÊN giống như tên các tác-giả Việt-Nam, trong phần ghi chú.
1- Việt-Nam sử-lược - Trần-Trọng-Kim. Saigon Thư-xã 1962.
2- Lịch-sử giữ nước của dân-tộc Việt-Nam - Nguyễn-Hợp-Minh. Melbourne 2000, tập 6.
3- Quân-sử - Bô TTM/Phòng5-1972, tập 4 quân-lực hình-thành Saigon 1972.
4- Hai Mươi Năm Qua, việc Từng Ngày 1945-1964 - Ðoàn Thêm. Saigon 1966.
5- Tôn-Ngô binh-pháp - Ngô-Văn-Triệu. Saigon 1973.
6- Trấn-Hưng-Ðạo binh-thư yếu-lược - Nguyễn-Ngọc-Tỉnh. Paris 1988.
7- Hoạt-động trong sông của Hải-quân VNCH. Phó Ðề-đốc Ðặng-Cao-Thăng, bài viết cho Hải-sử 2000 (HS-2000)
8- Giang-Ðoàn Xung-Phong 22, 25 và 29. HQ/Ðại-tá Lê-Hữu-Dõng, bài viết cho HS-2000
9- Lược-sử tổ-chức Hải-quân VNCH. HQ/Trung-tá Vũ-Hữu-San, bài viết cho HS-2000
10- Giang-Ðoàn 26 Xung-Phong. HQ/Trung-tá Trần-Ðỗ-Cẫm, bài viết cho HS-2000.
11- Trận Ba-Rài. HQ/Trung-tá Phan-Lạc-Tiếp, bài viết cho HS-2000.
12- Trung-Ðoàn U-Minh-Hạ. Ðộc-Hành. Việt-Luận số 297 Sydney 5/1988.
13- Hồi-ký 20 năm binh-nghiệp. Trung-tướng Tôn-Thất-Ðính. CA Chánh-đạo 1988.
14- Cuộc-chiến dang-dở. Tướng Trần-Văn-Nhựt. CA 2003.
15- Việt-Nam Máu Lửa. Nghiêm-Kế-Tổ. Mai-Lĩnh Saigon 1954.
16- Kinh-nghiệm chiến-trường chống đặc-công-thủy. Ban Hải-sử. BTL/HQ/P5 Saigon 1970.
17- 1945 Lạc đường vào lịch-sử. Nguyễn-Manh-Côn. Giao-điểm Saigon 1965.
18- Ðường mòn trên biển. Nguyễn-Tư-Ðương. Hà-Nội 2002.
19- The Ford Foundation Fellowship USA and France - Cao-Thế-Dung 1976.
20- Reassessing the ARVN - Lewis Sorley. VN Magazine April 2003.
21- Nation in arms - Greg Lockhart. Australia 1989.
22- The Vietnam war for dummies - Ronald B.Frankum, Jr and Stephen F. Maxner. Wiley Publishing Newyork 2003.
23- Vietnam war almanac - Harrys Summer. Jr.USA 1982.
24- Vìetnam a history - Stanley Karnow. Viking Newyork 1983.
25- Encyclopedia of the Vietnam war - Spencer C.Tucker. London 1999.
26- Vietnam: A visual encyclopedia - Philip Gutzman. London 2002.
27- The brown water navy - Victor Croizat. Blandford Press UK 1984.
28- The naval war in Vietnam - Anthony Preston. USA 1985.
29- Brown water, Black berets - Thomas J.Cutler. USA 1988.
30- Dictionary of the Vietnam war by Marc Leepson with Hanaford. USA 1996.
31- Victory at any cost - Cecil B.Currey. Great Britain 1997.

Nguyễn Văn Ơn

Nhung Dieu Tam Niem



Binh Chung Nhay Du



Giai đoạn I từ 1952 đến 1955
Từ năm 1946 đến năm 1954 là giai đoạn các đơn vị Nhẩy Dù Việt Nam ra đời, gồm các tiểu đoàn 1, 3, 4, 5, 6, 7; tuy nhiên lúc đó các cấp chỉ huy của các đơn vị lúc đó phần đông là người Pháp. Riêng TÐ4/ND/VN sau khi giao tranh với một trung đoàn Việt Minh, bị tổn thất nặng nề tại Trung Lào (đầu năm 1952) và không hiểu tại sao cấp trên lại không bổ xung quân số cho đơn vị này, cho giải thể TÐ4/ND/VN và lấy quân số bổ xung cho hai tiểu đoàn 1, và 6 Nhẩy Dù Việt Nam.
Cho tới năm 1954 Hiệp định Genève chia đôi lãnh thổ Việt Nam, miền Bắc thuộc quyền kiểm soát của đảng Cộng Sản Việt Nam, Miền Nam thuộc về những người yêu chuộng Tự Do; Các Tiểu Ðoàn Nhẩy Dù Việt Nam đang đồn trú tại miền Bắc gồm các đơn vị:

- Tiểu Ðoàn 3 Nhẩy Dù, Tiểu Ðoàn Trưởng T/U Phan Trọng Chinh

- Tiểu Ðoàn 5 Nhẩy Dù, Tiểu Ðoàn Trưởng Ð/U Le Chaud

- Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù, Tiểu Ðoàn Trưởng Ð/U Trịnh Xuân Nghiêm

Các đơn vị này được không vận từ Hà Nội vào đồn trú tại Nha Trang.

Tại đây, vì nhu cầu thành lập Liên Ðoàn Nhẩy Dù. và Tiểu Ðoàn Trợ Chiến Nhẩy Dù, nên Groupement Aéroportée Parachutiste No. 3 (PAP 3) và Tiểu Ðoàn 7 Nhẩy Dù phải giải thể.

Ngày 9 tháng 9 năm 1954 tức ngày kỷ niệm (Saint Michael) Thánh Tổ Nhẩy Dù Pháp và Việt Nam; Liên Ðoàn Nhẩy Dù Việt Nam ra đời, kể từ ngày này các cấp chỉ huy Pháp chính thức bàn giao quyền chỉ huy đơn vị cho các sĩ quan Việt Nam tại sân cờ của GAP3 tại Nha Trang.

Nằm trong chương trình trao trả chủ quyền Quốc Gia lại cho người Việt Nam. Lúc đầu Liên Ðoàn Nhẩy Dù Việt Nam chờ đón cấp chỉ huy VN đầu tiên là Ðại Tá Lam Sơn do Phủ Thủ Tướng đề nghị, nhưng Bộ Tổng Tham Mưu do Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh nắm quyền lại bổ nhiệm Trung Tá Ðỗ Cao Trí về nhận chức vụ Tư Lệnh Liên Ðoàn Nhẩy Dù Việt Nam, thành phần tổ chức Liên Ðoàn Nhẩy Dù Việt Nam như sau:

Tư Lệnh : Trung Tá Ðỗ Cao Trí

Tiểu Ðoàn Yểm Trợ : TÐT Ð/U Nguyễn Thọ Lập

Tiểu Ðoàn 1 ND : TÐT Ð/U Vũ Quang Tài

Tiểu Ðoàn 3 ND : TÐT Ð/U Phan Trọng Chinh

Tiểu Ðoàn 5 ND :TÐT Ð/U Le Chaud

Tiểu Ðoàn 6 ND :TÐT Ð/U Thạch Con

Tiểu Ðoàn 5 ND khi vận chuyển bằng đường hỏa xa từ Nha Trang vào Sài Gòn sắp sửa ra quân đánh Bình Xuyên Ð/U Le Chaud mới bàn giao đơn vị cho Trung Úy Cao Văn Viên. và sau đó Tr/U Viên được đặc cách lên Ð/U

* Đất nước bị chia đôi, lòng người bị ly tán, các thế lực thao túng Nam Việt Nam. Quân Đội Quốc Gia thì trong giai đoạn phôi thai chỉ vỏn vẹn 8 tháng trời để củng cố lại chỉ huy và huấn luyện, cuối tháng 4-1955 các chiến sĩ Nhẩy Dù tưởng đã nhoà nguệ khí, nhưng trái lại họ lại lên đường với một nhiệm vụ mới.

Ngày 25 tháng 3 năm 1955 Toàn bộ Liên Ðoàn Nhẩy Dù Việt Nam có mặt tại Sài Gòn, Bộ Tư Lệnh đóng tại Trại Quân Cụ (cạnh chợ cá Trần Quốc Toản) Trung Tá Ðỗ Cao Trí được Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm vinh thăng Ðại Tá; và theo lệnh của Thủ Tướng ngày 1 tháng 5 năm 1955 Liên Ðoàn Nhẩy Dù xuất quân trong vòng 4 ngày đã quét sạch lực lượng Bình Xuyên ra khỏi Sài Gòn - Chợ Lớn

Năm 1955 toàn bộ lực lượng Bình Xuyên kể cả Công An Xung Phong của họ bị đánh tan tác. Tổng hành dinh Bình Xuyên bên kia cầu chữ Y bị các Chiến sĩ Nhẩy Dù Chiếm đóng. Chiến công đầu tiên của Binh Chủng Nhẩy Dù đã làm sống lại ý chí quật cường của một Việt Nam tự do sau này, với nền Đệ Nhất Cộng Hoà


Lược Sử Các Đơn Vị Nhảy Dù


Khoái Boå Sung. (kbs)

Là một đơn vị ngoài bảng cấp số trực thuộc Phòng 3 SĐND. Hình thành như một Trung Tâm Huấn Luyện các tân binh tình nguyện về Nhảy-Dù. Khối Bổ Sung được thành lập từ khi Liên Đoàn Nhảy Dù trở thành Sư- Đoàn Nhảy Dù năm 1965.

Vì nhu cầu chiến trường gia tăng, cần phải đào tạo nhiều binh sỉ ưu tú qua 2 giai đoạn :

1 Từ một người thanh niên trở thành một người lính chiến.

2 Từ một người lính chiến trở thành người lính nhảy dù chuyên nghiệp.

Các Đơn Vị Trưởng liên tục :

1 Trung Tá Nguyển Văn Tư.

2 Đại Úy Phạm Thái Hoá.

3 Thiếu Tá Trần Như Tăng.

4 Trung Tá La Trịnh Tường.

Khối Bổ Sung được tổ chức như một đơn vị biệt lập gồm có 5 ban :

1 Ban 1 Quân Số.

2 Ban 2 An-Ninh.

3 Ban 3 Điều Hành.

4 Ban 4 Tiếp Liệu.

5 Ban 5 Tâm Lý Chiến.

Khối Bổ Sung nằm trong căn cứ Hoàng Hoa Thám cuả BTL/SĐND có thể thu nhận khoảng

2,000 tân binh nhảy dù cùng một lúc. Khối Bổ Sung có nhiệm vụ :

1 Tuyển mộ : Phối hợp với Phòng 3 SĐND tổ chức các toán tuyển mộ đi các quân khu tuyển mộ thẳng các thanh niên trong tuổi thi hành quân sự thích đi lính Nhảy Dù, hoặc các quân nhân cuả các đơn vị Bộ Binh tình nguyện về phục vụ trong quân chủng Nhảy Dù.

Sau khi ghi tên tình nguyện tại điạ phương, các tổ tuyển mộ xin phương tiện cho họ di chuyển về Khối Bổ Sung. Tại đây họ được lập các thủ tục hành chánh, lảnh quân trang quân dụng và chia thành các đại đội.

2 Huấn Luyện : gồm 2 giai đoạn .

a Giai đoạn 1 huấn luyện quân sự 3 tháng : Sau các thủ tục hành chánh, các tân binh được gởi đi

thụ huấn quân sự tại Tiểu Đoàn Khoá Sinh Vương Mộng Hồng thuộc Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.

b Giai đoạn 2 huấn luyện Nhảy Dù thời gian 1 tháng : Sau thời gian thụ huấn quân sự 3 tháng các

tân binh nhảy dù được TĐ Vương Mộng Hồng chuyển trở lại Khối Bổ Sung. Tại đây hằng ngày các cán bộ KBS hướng dẩn các Đại Đội tân binh sang Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù trong căn cứ Hoàng Hoa Thám để được huấn luyện về kỷ thuật nhảy dù.

Sau 3 tuần lể dưới đất thực tập mặc dù, khám dù, lên phi cơ,nhảy ra khỏi đài cao 11 thước, lấy thế đáp xuống đất, tránh dù lôi…Các tân binh được lên phi cơ thực hiện 6 saut dù tự động và một saut đêm. Từ đây các tân binh mới thật sự là một chiến binh nhảy dù thực sự. và Họ sẽ được phân phối đến các đơn vị theo nhu cầu.

( La Trịnh Tường, Mủ Đỏ 34 )


Tiểu Đoàn Khoá Sinh Vương Mộng Hồng :.

Cũng là một đơn-vị ngoài bảng cấp-số của SĐND trực thuộc Phòng 3 / SĐND gồm những cán bộ phụ trách quản trị và giám sát kỷ luật các Đại Đội tân binh nhảy dù và hằng ngày đưa họ sang thụ huấn quân-sự ở TTHL Quan Trung.

Các Vị Tiểu Đoàn Trưởng liên tiếp cuả TĐ Khoá-Sinh Vương Mộng Hồng :

1 Trung-Tá Trương Kế Hưng.

2 Trung Tá Lê Minh Ngọc.

3 Trung Tá Phạm Kim Bằng.

4 Thiếu Tá Miên..

Sau 3 tháng huấn luyện quân sự Các tân binh được chuyển trở lại Khối Bổ Sung ND để được đưa sang

Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy-Dù huấn luyện phần kỷ thuật nhảy dù.

( La Trịnh Tường- Đặc San Mủ Đỏ 34 )


Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù


I Sự hình thành và phát triển :

Sau Hiệp định Geneve năm 1954, Các Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù của Pháp tại Đà Nẳng và Hà-Nội bị giài tán, riêng trung tâm huấn luyện Nhảy Dù tại Sài Gòn trong căn cứ Tân Sơn Nhất được chuyển giao lại cho Quân Lực VNCH vào ngày 1 tháng 5 năm 1955. và vị HLV người VN , phụ tá cho Chỉ Huy Trưởng, Trung Úy Huott, có cấp bậc cao nhất là Thượng Sỉ I Trần Văn Vinh được thăng cấp Chuẩn Úy và được bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng đầu tiên cuả TTHL/ND Việt-Nam.

Cùng Với Chuẩn Úy Trần Văn Vinh, có khoảng 10 HSQ Huấn Luyện Viên Việt Nam khác cũng được chuyển sang Liên Đoàn Nhảy Dù Việt-Nam. Vào năm 1954, Liên đoàn nhảy dù cũng tuyển chọn một số SQ và HSQ từ các đơn vị gửi đi thụ huấn khoá HLV nhảy dù tại Hà-Nội và Đà-Nẳng trong số nầy có Thiếu Úy Lâm Quang Thới (TĐ1ND) Trung Úy Trương Quang Ân (TĐ3ND) Thiếu Úy Vũ Văn Giai (TĐ5ND) và Thiếu Úy Nguyển Vỷ (TĐ7ND).

Đến năm 1975, số khoá dù huấn luyện lên dến trên 200 khoá và trên 50,000 khoá sinh tốt nghiệp. Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù còn đào tạo 7 khoá Huấn Luyện Viên với trên 200 SQ và HSQ tốt nghiệp.

Ngoài việc đào luyện cho các quân nhân cơ hửu cuả đơn vị nhảy dù, TTHL ND còn huấn luyện cho các quân nhân thuộc các quân binh chủng khác gởi tới thụ huấn để nâng cao tinh thần tác chiến cũng như nhu cầu cần thiết cuả đơn vị như :

- Lực Lượng đặc biệt.

- Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù.

- Các đơn vị trực thuộc Phủ Tổng Thống và Bộ Tổng Tham Mưu.

- Đơn vị Người Nhái Hải Quân.

- SVSQ Trường Vỏ Bị Quốc Gia Đà-Lạt.

- Một số phóng viên chiến trường thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.

- Một số nhỏ các chuyên viên quân sự ngoại quốc.

- Một số Sỉ Quan cao cấp thuộc tất cả các Quân Binh Chủng khác.

II Cấp Chỉ Huy Liên tiếp :


1/5/1955 Chuẩn Úy Trần Văn Vinh.

1956 Thiếu Úy Đổ Đức Hạnh thay thế trong thời gian Chuẩn Úy Vinh đi học khoá SQ Trung Đội Trưởng.

1957 Thiếu Úy Trần Văn Vinh.

1973 Trung Úy Đổ Văn Thuận. thay thế Trung Tá Vinh về Khối Chiến Tranh Chính Trị.


III Nhiệm Vụ :

Nhiệm vụ chính yếu cuả Trung tâm huấn luyện Nhảy Dù là huấn luyện nhảy dù cho các quân nhân phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù và một số các đơn vị đặc-biệt trong QLVNCH. với các khoá Huấn luyện căn bản và các khoá Huấn Luyện Viên nhảy Dù:

1 Khoá Huấn Luyện Căn Bản :

Tất cả quân nhân tình nguyện gia nhập binh chủng nhảy dù không phân biệt cấp bậc, ngành chuyên

môn kể cả các vị Tuyên-Úy tôn giáo đều phải qua giai đoạn huấn luyện nhảy dù và được cấp bằng nhảy dù.

Trước khi nhập khoá, các quân nhân phải trải qua một cuộc trắc nghiệm sức khoẻ trong 2 ngày và phải đạt được số điểm ấn định tối thiểu .

Ngày thứ nhất trắc nghiệm 8 môn thể dục chính cuả người quân nhân.

Ngày thứ hai chạy dả-chiến 8000 thước với trang phục hành quân, sau nghỉ 30 phút, tiếp tục chạy với tốc độ 1500 thước.

Huấn Luyện giai đoạn I :

Tuần thứ nhất : Huấn Luyện dưới đất, gồm các môn :

- Cách thức mang dù và các trang bị hành quân.

- Cách thức nhảy ra khỏi phi cơ.

- Kiểm soát và lái dù theo ý muốn.

- Các thế dáp ( té) dể tránh bị thương tích khi từ trên không đáp xuống đất.

- Thu lượm và bảo trì dù sau khi đáp xuống đất.

Tuần thứ hai : Huấn Luyện trên các đài nhảy :

- Đài 4 thước, cách nhảy ra khỏi cửa phi cơ để làm quen ở độ cao trung bình.

- Đài 11 thước ( thường gọi là chuồng cu) nhảy ra khỏi cửa phi cơ ở độ cao để làm quen cảm giác mạnh.

- Đài 12 thước ( thường gọi là Dây tử thần ) tập đáp xuống đất để làm quen với tốc độ va chạm mặt đất từ trung bình đến mạnh.

- Cách tránh dù lôi khi trời có gió, lúc đáp từ trên không trung xuống đất.

Huấn Luyện giai đoạn 2 :

Thực tập nhảy dù từ trên phi cơ ở độ cao 400 thước ( 1200 feet) xuống đất gồm có :

- 6 lần nhảy ban ngày ( 1 lần với trang bị hành quân )

- 1 lần nhảy ban đêm.

2 Khoá Huấn Luyện Viên Nhảy Dù :

Các Sỉ-quan và HSQ khoá sinh Huấn Luyện Viên nhảy Dù được tuyển chọn từ các cán bộ đã có kinh

nghiệm nhảy dù và phải có ít nhất từ 30 lần nhảy trở lên, thuộc các đơn vị trong SĐND.

Sau khi tốt nghiệp, một số được giữ lại để bổ sung quân số huấn luyện viện tại TTHL/ND, số còn lại được trả về lại đơn vị để phụ giúp đơn vị trong các buổi nhảy dù thao duợt cũng như hành quân không vận cuả đơn vị.

Đơn vị Lực Lương Đặc Biệt thuộc bộ TTM vì nhu cầu bảo mật và lớn mạnh, nên cũng gởi các SQ và

HSQ về thụ huấn các khoá HLV nhay dù, sau đó trở về thành lập một TTHL Nhảy Dù riêng cuả LLĐB ở Ba Ngòi Nha Trang thuộc Quân Đoàn II

( Vũ Văn Hưởng 4/2004

Binh Chung Thuy Quan Luc Chien



Tóm tắt tiểu sử Binh Chủng
THỦY QUÂN LỤC CHIẾN

Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến là Lực Lượng Tổng Trừ Bị của QLVNCH . Trong quá trình 20 năm thành lập, phát triển vừa chiến đấu để kháng lại cuộc xâm chiếm miền Nam của Cộng sản VN .Khởi đầu từ năm 1954, Binh đoàn Thủy Quân Lục Chiến được chỉ huy tuần tự bở nhiều vị Chỉ huy Trưởng, cho đến ngày thành lập Sư đòan năm 1968:

-Trung tướng Lê nguyên Khang, vị Tư lệnh đầu tiên và lâu nhất .

-Thiếu tướng Bùi thế Lân, vị Tư lệnh Sư đòan cuối cùng từ năm 1972-1975 .

Binh chủng TQLC được chính thức thành lập ngày 1 tháng 10 năm 1954, tuy nhiên vào tháng 8 năm 1954, Tiểu đoàn 1 Quái Ðiểu, con Cọp Biển đầu đàn thành lập tại Nha Trang .
Qua năm 1955, Tiểu đoàn 2 Trâu Ðiên ra đời tại Rạch Giá, sau di chuyển về Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa .Một bộ chỉ huy được thành lập để chỉ huy 2 Tiếu đòan trên .
Song song với đà phát triển của QLVNCH từ năm 1958 đến năm 1960, Tiểu đòan 3 Sói Biển, Tiếu đoàn 4 Kình Ngư được thành lập ; TQLC cải biến thành Lử đoàn vào năm 1961 .
Ðể yểm trợ đặc biệt cho các cuộc hành quân thủy bộ, Ðại đội Yểm Trợ Thủy Bộ, Ðại đội Vận Tải, Ðại đội Truyền tin, Ðại đội Quân Y v.v…kế tiếp nhau ra đời .
Năm 1962, Tiểu đòan 1 Pháo binh thành hình gồm 2 Pháo đội 75 ly và 1 Pháo đội 105 ly .
Sang năm 1963, Lực lượng TQLC được tách rời khỏi sự yểm trợ tiếp vận của Bộ Tư lệnh Hải Quân, trực thuộc thẳng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH về cả chỉ huy, điều động tác chiến và yểm trợ tiếp vận .
Tuần tự,. Tiểu đoàn 5 Hắc Long ra đời năm 1964, vì nhu cầu chiến thuật thời bấy giờ nên 2 bộ chỉ huy Chiến đoàn A & B được tổ chức để chỉ huy trực tiếp các Tiểu đoàn TQLC đang tăng phái hành quân tại lảnh thổ các Quân đoàn và Vùng Chiến thuật .
Trong 2 năm 1965 và 1966 kế tiếp, Tiếu đoàn 6 Thần Ưng, Tiểu đoàn 7 Hùm Xám được thành hình .
Giửa năm 1968, TQLC được cải danh thành cấp Sư đòan , 2 Bộ chỉ huy Chiến đòan thành 2 Bộ chỉ huy Lử đoàn 147 và 258 .Các đơn vị yểm trợ tăng thành cấp Tiểu đoàn Yểm trợ Thủy Bộ, Tiểu đoàn Truyền tin, Tiểu đoàn Vận tải, Tiểu đoàn Công binh, Tiểu đoàn Quân Y .v.v…
Ðại đội huấn luyện trở thành Trung tâm Huấn Luyện Sư đoàn, khả năng cung cấp hàng ngàn Tân binh cho các Tiểu đoàn tác chiến sau khi được huấn luyện thuần thục căn bản bộ binh tác chiến và hành quân đặc biệt Không, Thủy, Bộ .
Năm 1969, Tiểu đoàn 8 Ó Biển, Tiếu đoàn 9 Mảnh Hổ, Tiếu đoàn 2 Pháo binh ra đời . BCH Lử đoàn 369, Tiếu đoàn 3 Pháo binh được thành lập năm 1970 .Bệnh viện Lê hửu Sanh thuộc Tiểu đoàn Quân Y, một bện viên 250 giường được thành lập trang bị đầy đủ đế đáp ứng nhu cầu binh lính TQLC cùng gia đình .
Năm 1974, Lử đoàn 468 gồm các Tiểu đòan 14, 16, 18 và 1 Pháo độI 105 ly được ra đời để chuẩn bị cho Sư đoàn TQLC thứ 2 .
Các cấp chỉ huy TQLC thường xuất thân từ 2 trường sí quan Vỏ bị Quốc gia Ðà lạt hoặc sỉ quan trừ bị Thủ Ðức, nhưng đến 80% đều tốt nghiệp các khóa Căn bản, Trung cấp hoặc Chỉ huy Tham Mưu cao cấp TQLC Hoa kỳ .
Kế từ sau năm 1960, các đơn vị TQLC đều đồn trú tại khu rừng cấm phía Tây- Bắc Thị xả Thủ Ðức, giáp ranh Quận Dí An-Biên Hòa, ngoại trừ Tiểu đòan 4 tại Thị xả Vủng Tàu, Bộ Tư lệnh Sư đoàn cùng một vài đơn vị yểm trợ tại Thị Nhgè và sàigòn .
Là Lực lượng Tổng Trừ Bị nên các Lử đoàn TQLC luôn luôn được tăng phái riêng lẻ từng Lử đoàn đến các Quân đoàn, Vùng Chiến thuật để hành quân tác chiến theo nhu cầu từng chiến dịch.
Toàn bộ Sư đoàn chỉ tham gia các cuộc hành quân qui mô lớn như :
-Cuộc hành quân Lam Sơn 719 vượt biên sang Hạ Lào năm 1971 do Quân đoàn I chỉ huy .
-Cuộc hành qu ân Lam Sơn 72 tái chiếm Thị xả Quảng Trị do Quân đoàn I chỉ huy .
Trên đây là sơ l ược diển tiến vừa thành lập, trưởng thành trong khói l ửa, vừa chiến đấu chống lại Cộng sản Việt nam của binh chủng TQLC Việt nam từ ngày 1 tháng 10 năm 1954 cho đến ngày 30/4/75 .

Tu Quang Trung ra Dong De



Trung Tâm 3 TMNN qua Quang Trung đến Ðồng Ðế Nha Trang
Minh Vủ K10B/72

Sau khi trình giấy tờ và hoàn tất mọi thủ tục tại Phòng Tuyển mộ Nhập ngủ, chúng tôi được chỉ định lên xe GMC đậu sẳn ở trước cửa Quân vụ thị trấn Sàigòn-Gia định . Mổi xe chở 30 tân binh, đoàn xe trực chỉ đi đến Trung Tâm 3 Tuyển mộ Nhập ngủ .
Xe đi trở lại về hướng chợ Hòa Hưng, qua chợ Ông Tạ, đến ngả tư Bảy Hiền, rồi thẳng đi Quang Trung.
Tôi ngồi yên lặng trên băng xe phía sau, nhìn những quang cảnh sinh hoạt quen thuộc của đường Lê văn Duyệt, con đường mà tôi đả lớn lên với tuối học trò của những buổi trưa nắng, buổi chiều mưa . …Tôi mở mắt to nhìn lại một lần chót, trước khi tôi rời xa khung cảnh quen thuộc ấy .
Xe cộ vẩn tấp nập ồn ào, con đường vẩn xôn xao như ngày nào.
Thấy đoàn xe chở tân binh đi ngang qua, dân chúng hai bên đường vẩy tay chào tạm biệt .Tôi nghe tiếng la ó từ trên xe của những người bạn tân binh vẩy tay chào lại và mổi khi xe đi qua mặt các cô thiếu nử đang đi xe đạp, xe gắn máy …

Trung Tâm 3 Tuyển mộ Nhập ngủ

Ðoàn xe rẻ vào cổng TT3/TMNN và đi quanh co dọc theo các dảy nhà, trại làm việc .Xe ngừng lại .Chúng tôi được lệnh xuống xe, xếp hàng ngồi chồm hổm chờ các cán bô Trung tâm sắp xếp công việc .
Sau khi được các cán bộ Trung tâm cấp phát quân trang tạm thời, đọc cho ghi số quân, trời đả gần nửa đêm,chúng tôi được các cán bộ TT3 dẩn đi đến các barack để tìm chổ nghỉ lưng tạm, chờ sáng hôm sau làm việc tiếp.
Giường ngủ là hai dảy nền cimen, chiều ngang khoảng 2m5, xây cao hơn mặt nền nhà khoảng 0.5m, song song theo 2 bên vách của Barack, chạy dài từ cửa trước cho đến cửa sau .Chính giửa barack treo cái bóng đèn tỏa áng sáng lờ mờ, như thiếu hơi điện .Mọi người trưng dụng những quân trang tạm thời vừa mới được cấp phát, trải ra trên nền ciment để nằm tạm qua đêm .
Ðêm đầu tiên tôi được nếm mùi đời có chút hơi . ..bụi, tôi cảm thấy khó ngủ vì đông người ồn ào và khói thuốc lá bay mù mịt.
Tôi nằm trăn trở , xoay qua, xoay lại, cố dổ giấc ngủ .
Những hình ảnh của thành đô cứ ẩn hiện trước mắt tôi, hình ảnh của gia đình tôi, của bạn bè, của người yêu, người chưa yêu, hình ảnh phố xá tấp nập, hình ảnh căn gát nhỏ của tôi . ..
Buổi sáng ngày kế tiếp, các Tân binh tập hợp xếp hàng dài, ngồi bẹp xuống đất, được các cán bộ của Trung tâm phát cho một xấp giấy có in sẳn các mẩu khai lý lịch, tình trạng sức khỏe v.v…
Ngồi chờ nghe các cán bộ giải thích, chỉ dẩn nầy nọ, nọ kia ….Nắng đả lên cao, bắt đầu cảm thấy nóng nực, mồ hôi rịnh trên trán, hai chân tê mỏi, tôi muốn duổi chân ra một cái cho thoải mái…mà không duổi ra được.
Mặt trời đả lên đến đỉnh đầu, chúng tôi mới được tan hàng. Mọi người tụ năm tụm ba đứng đầy dưới những tàng cây Bá đậu dọc theo hai bên con đường đi vào dẩy nhà lợp tôn dung làm chổ làm việc cho các cán bộ của Trung tâm 3. Kẻ đi tìm nước uống, người ngồi phì phà nhả khói …
Buổi chiều, chúng tôi được di chuyển sang một khu trại nhà tập thể, bên trong có để sẳn hơn 200 chiếc giường chồng bằng gổ, củ kỉ . Chúng tôi được lệnh tạm trú tại đó, chờ đến khi có lệnh mới.
Một xi-tẹt nước được kéo đến, mọi người xúm nhau bu quanh để chờ hứng nước vào chiếc bình bằng nylon, có hình dạng như cái gối nhỏ, chứa khoảng 5 lít nước .Cảnh chen, lấn, hổn độn vô trật tự …tôi đứng nhìn thấy mà chán …Tôi không hiểu tại sao dân của mình cái gì củng dành giựt nhau, từ cái ăn ở các nhà hàng quán, cho tới cái giải trí chen lấn nhau, xô đẩy nhau mua vé xem ciné, xem đại nhạc hội . .
Tôi đứng chờ cho bớt người dành giựt để hứng một ít nước cho vào chiếc bình chứa của tôi, nhưng hết đợt nầy lại đến đợt khác, cứ tiếp tục giành giật . Tôi nhìn thấy có nhiều người đả lấy nước xong rồi, còn trở lại cởi áo ra tắm tại chổ, nước chảy tràn ngập ra sân …Chán nản, tôi bỏ đi sang Câu lập bộ bên kia con đường, mua một ly cà phê đá và một gói thuốc lá ngồi nhấm nháp.
Tôi thả khói ..nhìn sang bên kia thiên hạ đang chen lấn, dành giựt la chí chóe .
Uống xong ly cà phê, phì phà vài điếu thuốc lá, tôi đi trở về cái phòng tập thể . Ðịnh ngả lưng ngủ một giấc, nhưng bên trong quá nóng nực, lại ồn ào và nực mùi khói thuốc. Tôi củng hút thuốc lá lai rai, nhưng còn không chịu nổi được với mùi khói thuốc dầy đặc. Tôi đi ra ngoài, ngồi dựa lưng nơi gốc cây Bá đậu có tàng cây trải rộng và thiu thỉu ngủ .

Buổi chiều lại, Cán bộ Trung tâm 3 phát loa phóng thanh gọi tập hợp và có người hướng dẩn xuống nhà Bàn (phòng ăn)lấy thức ăn. Trong nhà tập thể đả nóng vậy . ..nhà Bàn còn nóng hơn .
Tôi đứng chờ đến phiên mình lấy thức ăn mà mồ hôi chảy đẩm ướt mặt mày, quần áo .Nhà Bàn phất lên mùi hôi vì thiếu dọn dẹp, lao chùi .Ngửi mùi thôi …thấy đả muốn nhợn ói ..tôi không biết một lát nửa đây, thức ăn sẻ như thế nào?
Tôi chỉ lấy cơm thôi .Cơm nấu trong cái chảo to, có bỏ vitamine trên mặt có màu hơi vàng .Tôi không lấy thức ăn, vì mùi cá kho tanh quá !…Tôi trở lại Câu lập bộ để mua thức ăn và ly đá lạnh uống để “chửa lửa” và ngồi lì bên đó cho đến chiều, tập hợp tôi mới trở về .
Chiều tắt nắng, không khí dịu bớt hơi nóng .Sau khi tập hợp xong, tôi tìm chổ tìểu tiện và tắm “dả chiến” một phát cho khỏe .Tôi trở lại chiếc giường chồng hai tầng nằm mắm mắt .. để đó …,mà nghe chung quanh đầy những âm thanh không được êm dịu. .
Buổi sáng lại, thiên hạ thức dậy dành nhau ở xi-tẹt nước để rửa mặt, đánh răng. Một vài người đả gây gổ, ấu đả nhau dành đến phiên mình trước . Tôi dùng lượng nước còn lại ở trong bình dùng làm gối kê đầu để rửa mặt, chớ không đến xi-tẹt nước .
8 :30 sáng ,tập hợp. Mổi người được phát cho một khúc bánh mì dài chừng 6 inches và một ít đường cát trắng để ăn với bánh mì . Sau đó cán bộ Trung tâm đọc tên từng người lên nhận giấy phép cho về. Tôi không được phép về, vì bửa khai trong phiếu sức khỏe, tôi có khai mắt bị cận thị, nên họ giử tôi lại chờ chở sang bệnh viện Cộng Hòa khám mắt .
Tất cả đả được về phép, chỉ còn khoảng 50 người ở lại chờ đi khám bệnh .Nhìn thấy thiên hạ đi phép mà tôi thèm thuồng. Mới xa nhà, xa thành phố có mấy hôm, mà tôi tưởng chừng như cả tháng . . .Tôi nhớ nhà vô cùng, tôi nhớ phố phường, tôi nhớ người yêu …khoắc khoải trong lòng .
Khu nhà tập thể vắng lặng, không tiếng ồn ào, không mùi khói thuốc lá .Bọn người ở lại chờ đi khám sức khỏe được tắm rửa no nê .Buổi tối, tôi sang Câu lập bộ ngồi uống cà phê, nghe nhạc đến khuya mới về ngủ .
Ba ngày kế tiếp, mổi buổi sáng thức dậy tập họp, có xe GMC đậu chờ sẳn chở sang nhà thương Cộng Hòa khám mắt .Xe chạy ngang qua các khu dân cư đang sinh hoạt, tôi thấy không khí vui làm sao . .. Nhìn những cặp tình nhân trẻ đang chở nhau trên xe gắn máy qua lại trông mà thấy phát thèm ..Tôi liên tưởng đến mình của những ngày tháng cách nay hơn một tuần lể, nửa tháng …mình củng hạnh phúc như vậy . .,.rồi chợt tiếc nuối cho những ngày tháng đả vụt qua mau . ..

Ðám người đi phép trở lại được một hôm, thì hôm sau được gọi tên, mang quân trang lên xe GMC chờ sẳn đưa sang Trung tâm Huấn Luyện Quang Trung thụ huấn Giai đoạn I Khóa sinh dự bị sỉ quan .Cứ mổi ngày, ngày nào củng có người đi.
Năm 1972 là năm Tổng động viên tất cả sinh viên học sinh đi lính, nếu không đủ điều kiện hoản dịch theo luật tổng động viên mới của Chính phủ. Có tất cả 12 khóa sỉ quan trừ bị, mổi khóa có từ 500-800 người . Tôi bị kẹt ở lại khám sức khỏe 2 tuần lể, lọt xuống đến khóa 10B/72.
Tôi được cho về phép 3 ngày, sau khi có kết quả khám mắt, chả được gì …Cận nặng, cận nhẹ, cận thị hay không cận gì củng cá mè một lứa . Ba ngày phép tôi ở nhà, không muốn đi đâu, không muốn thăm em nào hết .Nằm trong Trung Tâm 3 thì nhớ đủ thứ, giờ được về nhà, tôi lại không muốn đi đâu, mà cảm thấy lưu luyến cái không khí gia đình mình, tôi muốn đưọc gần gủi với cha mẹ, với anh chị em .
Hết phép, trở lại Trung tâm 3. Hôm sau tôi được gọi tên sang TTHL/Quang Trung để thụ huấn giai đoạn I Khóa sinh dự bị Sỉ quan.

TTHL Quang Trung

Ðoàn xe GMC chở đám SVSQ trớ lại Quân trường Quang Trung sau hơn 2 tháng đi công tác chiến dịch tuyên truyền cho Hiệp Ðịnh Paris.
Chúng tôi thiểu nảo liệng cái ba lô nặng nề lại chiếc giường sắt 2 tầng với dáng vẻ mệt mỏi .Buối tối, chúng tôi được lênh tập họp ngoài sân của Liên Ðoàn để nghe sỉ quan cán bộ Tiểu Ðoàn Trưởng có đôi lời và sau đó về tập họp tại sân Ðại đội trước barack đang ở .Chúng tôi ngồi mà gật tới, gật lui buồn ngủ . ..
Không có ai giơ tay lên thắc mắc, hay phát biểu ý kiến như những lần trước, mà hầu hết …hình như mọi người chỉ chờ “tan hàng cố gắng”.
Tưởng là thiên hạ buồn ngủ, chờ cho tan hàng để ..ngủ nghê. Nhưng khi tan hàng rồi mọi người lại xúm nhau chụm đầu lại chuyện trò in ỏi. Họ kể cho nhau nghe những ngày đi chiến dịch .Anh nào củng móc bóp ra khoe hình ảnh người yêu, hình má nuôi, chị nuôi, em nuôi …Không anh nào khoe hình …cha nuôi và anh nuôi!.
Riêng tôi thì, mấy tháng nay đả quen sống thoải mái, giờ trở lại khu nhà tập thể ồn ào, đông nghẹt hơi người, tôi cảm thấy ngột ngạt, hơi khó chịu ..
Những ngày kế tiếp, chúng tôi không ra bải tập mà ngồi học trong phòng .Lệnh của Tiểu Ðoàn bảo tất cả Khóa sinh phải “tháo Con Cá” xuống, trở lại là Khóa sinh Dự bị Sỉ quan như trước.
Trớ lại ăn cơm ở nhà Bàn …”ớn “ tới cổ .Bửa nào nhà Bàn củng thu dọn cho heo ăn mệt nghỉ .Thực phẩm mang vào quân trường sau chiến dịch, đứa nào củng còn đầy ba lô, ăn cả tuần lể mới hết .Xuống nhà Bàn chỉ lấy cơm thôi, rồi mang sang Câu lập bộ ngồi ăn .
Những câu chuyện sau khi đi chiến dịch về, không biết nói sau cho hết . Hể đến giờ học thì tạm ngưng, giờ nghỉ giải lao (Break time), giờ tan học là thiên hạ tiếp tục quay lại “Cuốn phim tạp lục” đi Chiến dịch trao đổi với nhau. Có anh thì nói nhiều, mà củng có người lại đâm ra trầm ngâm khó hiểu.
Tôi bắt đầu lấy giấy bút ra viết những bức thư gởi về thành đô cho những người tôi đả hứa . Tôi đả biết trước, cố gắng tránh né không “ kết” thêm những tình cảm vương vấn, mà giờ nầy tôi vẩn phải trả nợ giấy bút …viết mỏi tay muốn rụng rời, ý là tôi đả cố gắng thu gọn, chỉ viết có vài dòng, viết vắn tắt cho mổi bức thư .
Thư viết gởi cho bạn bè ..là tay tôi nó muốn rả rời . Tôi chưa có thì giờ viết thư gới về cho gia đình của tôi nửa .. .
Buối tối trong barack như ngày hội Tết, anh nào củng ngồi kề bên cái rương cây đựng quần áo, bên nhọn đèn cầy cậm cụi, cấm cúi viết thư .Câu lập bộ bán sạch hết đèn cầy ….các “thơ sỉ” phải trưng dụng đến đèn pin . Ðêm nào sỉ quan cán bộ Ðại đội trưởng đi kiểm soát củng la hét ôm xồm vì một số anh em miệt mài “gởi dòng tâm sự” qua giấy bút, không ngủ đúng giờ qui định. Anh em áp dung phương cách ngụy trang “trùm mền”, mở đèn pin, nằm xấp viết thư kín đáo.
Buổi sáng, xếp hàng đi đến lớp học, đả có hơn ….phân nửa đứng sang một bên “khai bịnh” lên bệnh xá xin thuốc, chích thuốc. Anh em trong thời gian chiến dịch, đi uống “càphê sửa”, còn “dấu sửa” mang theo quân trường….Một số khác thì cất dấu “hột xoài, hột mít” dưới háng đêm vô quân trường để trồng .Viên sỉ quan Ðại đội trưởng khóa sinh phải buột miệng chưởi thề,
-“Ð.M. thế nầy thì học hành, tập tành cái chó gì …”

Sau hơn một tuần lể trở lại Quân Trường , chúng tôi được lệnh thu xếp quân trang, sang Trại chuyển tiếp để chờ đi quân trường khác .
Cuộc chiến tranh Việt nam đả lên đến hồi khốc liệt từ trước và sau “mùa Hè đỏ lửa” năm 1972 .
Năm 1972, có 12 Khóa Sỉ quan Trừ Bị, chưa kể một số khác tình nguyện vào các binh chủng Hải quân, Không quân, Vỏ bị Ðà lạt, Trường Cảnh Sát . v.v….Ðất nước loạn ly, thanh niên xếp bút nghiên tòng quân nhập ngủ,
“Làm trai cho đáng nên trai
Xuống Ðông, Ðông tỉnh, lên Ðoài, Ðoài tan”
Các thanh niên, sinh viên học sinh chúng tôi nao nức, bồi hồi trăn trở theo từng nhịp thở của thời cuộc .Lệnh tổng động viên mới của chính phủ ban hành theo đó thì thanh niên trong hạn tuổi 18 phải xong năm thứ I đại học, 19 tuổi phải xong năm thứ 2, hoặc là xong năm thứ I ở các phân khoa kỷ thuật …nếu không đạt được tiêu chuẩn yêu cầu của Nha Ðộng viên Bộ Quốc Phòng đề ra ..thì hảy bắt đầu nghêu ngao hát,

…”Anh sẻ ra đi về miền các nóng,
Nơi có quê hương mịt mờ khói súng …
Anh sẻ ra đi về miền mênh mông
Cơn gió cao nguyên từng đêm lạnh lùng …”
bài “Trả lại em yêu” của nhạc sỉ Phạm Duy và chuẩn bị bàn giao “Ðào” cho người khác là vừa ..
Các phân khoa đại học “trai thiếu, gái thừa” .Gần hết những thanh niên thuộc dạng .bình thường trông được trai đều lên đường nhập ngủ, chỉ còn lại thành phần thanh niên được hoản dịch vì lý do gia cảnh (con trai duy nhất trong gia đình có cha mẹ gìa trên 60 tuổi) hay bị tật nguyền …
Quân trường Vỏ bị Thủ Ðức chật nức, không còn đủ chổ chứa nửa . Tổng Cục Huân Huấn mượn đở trường Ðồng Ðế Nha Trang (Trường Hạ sỉ quan Ðồng Ðế) để huấn luyện Sỉ quan..
Tiểu Ðoàn của chúng tôi được chỉ định đi đến trường Ðồng Ðế Nha Trang (Khóa 10B/72).


Trường Ðồng Ðế, Nha Trang

Chúng tôi được cấp phát cho mổi đứa một ổ bánh mì dài độ 1’-0” và 2 hộp Cá mòi Sumaco, để chuẩn bị lên đường . Ðứa nào củng hứng đầy bi đông nước và khệ nệ đeo trên vai ba lô, tay sách sacmaren (sách tay) nặng triểu .
Sau khi được các cán bộ từ trường Ðồng Ðế dặn dò mọi chi tiết, chúng tôi bước lên những chiếc xe GMC đậu chờ sẳn. Ðoàn xe lăn bánh rời khỏi TTHL/QT vào khoảng 9 giờ sáng hôm đó theo ngỏ xa lộ Ðại Hàn, ra xa lộ Biên Hòa rồi trực chỉ Quốc lộ 1 . Có lính vỏ trang theo hộ tống và tôi nhìn thấy phi cơ L-19 thỉnh thoảng xuất hiện bay quần trên bầu trời để bảo vệ an ninh .
Ðoàn xe đi xuyên qua các tỉnh Phan Thiết, tôi ngửi được mùi nước mắn từ những Vựa nước mắn dọc theo hai bên quốc lộ, rồi đi qua Phan Rang, Phan Rí, nắng như lửa đốt . Ðoàn xe đi chậm lại khi đi ngang xuyên qua thành phố .Tôi nhìn những người dân địa phương đang đi bộ trên đường, người nào mặt mày củng hóc hác,da đen thui đen thủi, tóc thì le hoe ..
Quốc lộ 1 có một khoảng đi cặp theo bờ biển, một bên là núi đá .Gió biển thổi vào mát rượi, có lẩn mùi muối hăn hắc. . .
Ðoàn xe dừng lại ở một khoảng quốc lộ cạnh sát bờ biển, chúng tôi được phép rời xe 15’ để …”xả nước”và vương vai hít thở vài cái cho thoải mái , xong lên xe đi tiếp .
Gần xế chiều, chúng tôi đến Cam Ranh. Bải cát trắng tinh bao bọc những hàng dừa lả lơi thơ mộng .Tôi mải mê nhìn ngắm những vẻ đẹp thiên nhiên của trời đất quê hương đả nhiều lần nghe nói đến, nhưng giờ mới được diện kiến .Xe đi khoảng hơn một giờ sau thì vào đến thành phố biển Nha Trang. Ðoàn xe vẩn đi trên Quốc lộ 1, xuyên qua thành phố một đoạn, qua cầu Xóm Bóng hơn ½ giờ thì dừng lại ở trại Tiếp Nhận trường Ðồng Ðế, nằm dưới chân đèo Rù Rì .

Chúng tôi ở Trại Tiếp nhận 3 tuần lể, chờ sắp xếp để đưa sang quân trường Ðồng Ðế . Trại Tiếp Nhận trường Ðồng Ðế không lớn bằng trại Tiếp Nhận Quang Trung. Chỉ có 6 cái barack nằm song song, mổi bên 3 cái . Ở giửa là sân rộng, có một nhà tiền chế cho toán kiểm sóat cổng ra vào trại. Cuối sân là dẩy nhà dùng làm văn phòng cho cán bộ phụ trách. Trại Tiếp Nhận nằm trơ trọi dưới chân đồi, không một bóng cây. Ban ngày, nắng rọi vào mái tôn, nóng hừng hực như lửa đốt, chúng tôi phải ra đứng bên hiên nhà đế tìm chút gió thoảng .
Cán bộ trại cắt cử cho chúng tôi làm tạp dịch chung quanh doanh trại. Tối lại thì tập họp, tất cả ngồi bẹp xuống mặt đất cát, sỏi để nghe cán bộ trường dặn dò và thỉnh thoảng coi văn nghệ “tài tử” tự nguyện của các Khóa sinh chúng tôi cho đở buồn .
Chúng tôi không được phép rời khỏi khu vực trại Tiếp Nhận . Mổi ngày có xe kéo xi tẹt nước đến vào buối sáng. Khoảng hơn 11 giờ sáng và 5 giờ chiều mổi ngày, xe nhà Bàn chở thức ăn đến . Ăn cơm với cá biển kho …,mùi cá tanh không chịu nổi . Ðứa nào nuốt không vô thì …đả có các ông cán bộ và lính phục vụ nhà Bàn có mang theo thức ăn “khá hơn” để bán lấy tiền . Trời trưa, nắng gắt…các ông củng ngụy trang mang đến cà phê đá, lén lút bán cho các khóa sinh. Ðứa nào muốn mua gì khác, có thể nhờ các ông cán bộ nhà Bàn làm trung gian mua dùm, tính giá “văn nghệ” thôi .
Mổi ngày , kẻng đánh báo thức 6 giờ sáng, thức dậy ra sân tập thể dục, xong đánh răng rửa mặt, chia công tác, dùng cái rà-mèn đựng cơm ăn “chà láng” giao thông hào chung quanh trại .Nếu không có thêm công tác gì thì ngồi tán dóc, kể chuyện trên trời dưới đất, hoặc đọc sách, viết thư để chờ xe nhà Bàn đến lảnh cơm ăn .
Hơn một tuần lể, sau khi đi công tác trở về quân trường Quang Trung, anh em phóng thư đi, giờ đả có thư lại . Thư từ Quang Trung được chuyển ra ngày nào củng đầy ấp cả bao “chỉ xanh” loại lớn. Khoái nhất là mổi ngày ngồi chờ cho ông Bưu tín viên (Mail man) của trại vác cái bao to tổ bố đứng giửa sân đọc tên .Chờ cho ông ta đọc trúng cái tên cúng cơm của mình, ra lảnh thư, hối hả mở ra xem .Có anh thì ra giao thông hào, ngồi trầm ngâm đọc thư, có anh nằm xấp trên giường ngủ đọc thư, có anh ngồi dựa lưng vào vách hè barack đọc thư …
Tôi nhận được vài lá thư từ Sàigòn gởi ra .Tôi mừng và cảm thấy được an ủi vô cùng giửa cái khung cảnh nắng cháy, đồi núi, sỏi đá .Những dòng chử thắm đượm nồng nàng, đả làm cho tôi có được những giây phút hồi tưởng lại mấy tháng đi chiến dịch…,chút tình của người hậu phương còn nghỉ đến tôi .

Chuẩn bị sang quân trường Ðồng Ðế.

Ðoàn xe chở chúng tôi đi độ hơn nửa giờ, thì đến cổng quân trường Ðồng Ðế .Trường nằm sát cạnh bờ biển .Ngồi trên xe, tôi nhìn thấy khoảng trống mênh mông trời nước phía trước mặt ở cuối con đường .
Ðoàn xe đi qua cổng gát, rồi dừng lại một bên sân Vủ Ðình Trường .Cả đám SVSQ khóa đàn anh đang ngồi chờ, chào đón chúng tôi . Chúng tôi vai mang ba lô, tay xách sacramen nhảy xuống xe là đả nghe tiếng hò hét, quát tháo của Cán bộ quân trường ra lệnh cho đám “Lính mới” dậm chân tại chổ, miệng đếm nhịp 1, 2, 3, 4 …1,2,3,4 .Khi đả nhịp nhàng ăn khớp với nhau, chúng tôi bắt đầu chạy quanh sân Vủ Ðình Trường . Sau mấy tháng đi chiến dịch “ăn hút”, anh em đả tạm quên “mùi” quân trường ….cho nên mới chạy hết 3 vòng, đả có vài “chiến sỉ” ngả gục …và lác đát kéo dài qua đến vòng thứ 4 . Sang vòng thứ 5, chỉ còn lại phân nửa …đang chạy mà tôi có cảm tưởng như đang đi bộ. Tôi củng rán cầm cự kéo dài qua được vòng thứ 5 thì ….bắt đầu thấy sao trời chớp nhá …,cổ họng tôi khô như có lửa cháy, tôi rán bước thêm vài bước nửa, trước khi “gục ngả” nằm dài …Cán bộ quân trường nắm áo tôi kéo đứng dậy ..bảo chạy tiếp . Tôi lắc đầu, ra dấu tôi đả …hết “xíu quách”, chớ tôi nói không nổi thành lời .Mặc cho cán bộ hò hét , tôi quị người xuống chiếc “giường đất” êm ái, rồi để cho nó tới đâu thì tới, chớ tôi không còn bước nổi nửa .Biết tôi “làm thật” chớ không phải giả bộ, cho nên cán bộ quân trường …“thông cảm” cho tôi nằm luôn tại chổ …củng như bao nhiêu “chiến sỉ” khác ..
Anh nào mà còn ngoan cố dấu “hột xoài hột mít” dưới háng mang theo từ Quang Trung, có lẻ củng …văng hột ra ngoài, khỏi cần chờ ban Quân Y quân trường tặng tiền thưởng 100 đến 500 ngàn đồng ..,tặng “chiến sỉ xuất sắc” ..!
Sau một lúc nằm dài thẳng cẳng, chúng tôi mới lác đát cục cựa mò cái bi đông tìm nước uống . Cán bộ quân trường ngồi ..rình, vừa thấy chúng tôi tay chân “mó máy” ..bảo đứng dậy chạy tiếp .Vòng chạy thứ nhì nầy gây cấn hơn lần đầu . Cán bộ hướng dẩn anh hò hét dử tợn hơn, vừa chạy theo sau lưng đếm nhịp, vừa đẩy người tôi đi tới .Tôi đi gần được một vòng thì thấy “ngàn sao” …và hết biết gì chung quanh nửa .. .
Màn ra mắt Quân Trường chỉ có vài tiếng đồng hồ thôi, một số anh em chúng tôi ê ẩm long thể.

Ba tuần lể huấn nhục bắt đầu sau 2 tuần chúng tôi đến quân trường Ðồng Ðế . Trong 3 tuần nầy, chúng tôi phải chịu nép mình chấp hành những qui luật của quân trường, thi hành những hình phạt, biểu gì làm nấy, bảo sao làm vậy .., không được phản đối củng như có ý kiến .Phải chịu đựng những kham khổ .Chúng tôi được cắt cử làm nhửng công tác mà tay chân phải đụng chạm với bùn sình, chất thải dơ bẩn . Ðể nguyên áo quần dơ và mang giầy vớ dơ ngủ một đôi ngày …,chân nhớt nhợt vì chất bẩn tồn động trong đôi vớ thối, các ngỏ ngách thoát mồ hôi, chổ tiếp giáp của thân thể với tứ chi không được lao rửa nên ..”lên men”..củng nhớt nhợt, phát ra mùi khó ngửi và ngứa ngái khó chịu vô kể … Chúng tôi không được nhân thư từ, không gặp gở, tiếp xúc với ai, ngoài những người bạn đồng ngủ và sỉ quan Ðại đội trưởng Khóa sinh. Không được đi đến Câu lập bộ, không hút thuốc lá …
Một số khoá sinh đả không chịu đựng nổi gia đoạn huấn nhục đả bỏ cuộc nửa chừng, hoặc vì quá bức xức, quá sức chịu đựng của mình nên đả nổi khùng không kềm chế được mình gây nên những hành động đáng tiếc ..
Hết 3 tuần lể huấn nhục là một cuộc di hành từ trường lên đến đỉnh núi Ðồng Ðế có cái tượng “thằng Cù lần”.
Không biết 2 câu thơ,

“Anh đứng ngàn năm thao diển nghỉ,
Em nằm xỏa tóc đợi chờ anh”

Do ai là tác giả? Và đả có từ lúc nào để diển tả khung cảnh bức tượng cao khoảng 25m, đúc bằng ciment, sơn màu trắng, đứng ở thế “nghỉ” của nhà binh đặt trên đỉnh núi; bên dưới chân của bức tượng là đường nóc của những dảy núi thấp. Ðứng phía xa xa từ hướng thành phố Nha Trang, nhìn như những đường nét của một người phụ nử, đang ở thế nằm nghiêng, tóc xỏa dài …chờ …
Vượt qua được ngọn núi cao để đến đỉnh đồi, rồi đi trở xuống lại chân núi, củng phải đổ nhiều mồ hôi “leo núi”, vai mang ba lô, đầu đội nón sắt cùng súng ống, đạn dược .
Từ sáng sớm, các Khóa sinh đả rời trại, di quân theo hang dọc đường ra Bải Tiên vòng theo chân núi, một bên là vách đá, một bên là biển buổi sáng sớm, thủy triều xuống thấp, bải cát dài, rộng, có lẩn đá lớn nhỏ lỏm chỏm . Ði khoảng 3 km rẻ sang con đường mòn leo lên những triền dốc .Có lúc gặp con dốc hơi thẳng đứng, thì phải rán khom lưng, hoặc bò, dùng đủ phương cách để vượt qua …Ðến xế trưa, tôi củng “ôm chân” được bức tượng .Một sỉ quan cán bộ ngồi sẳn ở đó ghi tên, ghi danh số để biết người nào đả đến nơi, người nào còn “chém vè” ở lưng chừng núi .
Trên đường xuống núi thì đở vất vả hơn lúc leo lên. Cứ đổ dốc mà…chạy ! Có lúc dùng bàn tọa ngồi cho trượt xuống …và biết chắc là về barack sẻ …bỏ cái quần .
Xế chiều, tất cả các Khóa sinh tập hợp đầy đủ dưới chân núi. Sau khi sỉ quan cán bộ kiểm điểm xem còn em nào ở nán lại để tâm sự với thằng Cù Lần không? Ðầy đủ quân số rồi, chúng tôi trở về trại lúc trời nhá nhem tối .
Anh em được tắm một bửa thả dàn, để chuẩn bị sáng hôm sau mặc quần áo sạch sẻ, nguyên bộ kaki mầu vàng nâu, có thắc cravat, đầu đội mủ lưởi trai, dự lể gắn Alpha, chánh thức là Sinh Viên Sỉ Quan .


Sau buổi lể gắn Alpha, chúng tôi được đi phép và phải trở lại quân trường lúc 6 giờ chiều cùng ngày .
Khu Tiếp Tân tọa lạc kế bên bờ biển, nằm một bên, phía trước cổng chính của quân trường đông nghẹt thân nhân của các SVSQ đến thăm . Tôi thì …không có ai đến thăm hết, vì thân nhân ở xa .
Tôi thả bộ đi vòng vòng khu Tiếp Tân, nhìn thiên hạ . Tôi tấp vô ngồi nơi mấy cái quán cốc che tạm bằng những miếng vải nylon do vợ con của các cán bộ, lính tráng đang phục vụ trong quân trường bài bán thức ăn, uống làm một bụng cho đả thèm, xong tôi la cà xuống những quán cốc khác bán dừa tươi dọc theo bải cát, chọn cho mình được một chiếc ghế bố, ở một vị trí mát mẻ, tôi ngồi nhìn ra khơi trời nước bao la, nghe sóng vổ rì rào …nhăm nhi nước dừa ngọt, mát rượi …


Chú thích : Người viết chỉ nhớ man mán tới đâu viết ra tới đó .Quí vị cựu SVSQ nào còn nhớ chi tiết nào bổ túc thêm cho để anh em cùng chia sẻ những ngày mới vừa “Xếp áo thư sinh từ giả kinh kỳ”.
Ða tạ